Nguyễn Khôi, chàng trai làng Đình Bảng sau khi học xong trường đại học nông nghiệp; một buổi «Trưa rừng ấy» anh «gửi» mình tận «...mường bản xa xăm» (tên hai tập thơ của Nguyên Khôi) nơi biên giới miền tây của Tổ quốc tròn 21 năm để lập nghiệp, lập thân với bao nhiêu thử thách cam go của một đời người. Ai nói gì thì nói, phong tặng cho mình những điều hay tiếng tốt lên tận mây xanh thì hai thập kỉ 60 - 70, thế kỷ trước mà phải đi Tây Bắc, Việt Bắc công tác thì có khác gì vượt Trường Sơn vào miền Nam chiếu đấu. Chỉ vì mấy câu thơ của một anh nhà thơ trẻ phổi bò ngồi ở Hà Nội: «Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy/ Thì gian nan gấp mấy cũng lên đường/ Lòng ở đây nhưng dạ ở muôn phương...» làm bao người hoắng lên đâm đơn tình nguyện đến những nơi tổ quốc cần! Nhưng không phải tất cả đều như vậy. Nhiều trường hợp, nếu anh không đi thì mời anh học xong ra kia ngồi chơi xơi nước! Kẻ viết những dòng này, những năm ấy cũng đã từng trong hoàn cảnh tương tự. Thôi thì cũng đành nhắm đưa chân, «yên tâm vững bước mà đi», lên đấy thử thách dăm năm, công tác tốt sẽ được về xuôi... công tác sau: «Tuổi trẻ cần phải thử thách ở nơi đầu sóng ngọn gió mới là tuổi trẻ»! Năm năm kéo căng dây cao su thành 20 năm, có người 30 năm! Chuyện ngày xưa ấy, xưa rồi... «Lượm ơi», không bàn thêm nữa.
21 năm Nguyên Khôi lăn lộn với núi rừng Tây Bắc. May mà anh có vôn kiến thức chuyên môn khá, vả lại công việc chuyên môn của một kỹ sư nông nghiệp ở đó người ta cần anh, cả người vợ đẹp xứ Thái như bông hoa Ban, hoa "phặc phiền" huyền diệu níu chân anh ở lại với rừng đèo heo hút gió... Anh lại có khiếu năng thiên bẩm về văn chương, thêm cuộc sống nội tâm phong phú nữa nên dù đi bất cứ nơi đâu anh vẫn sống khoẻ; sống và cống hiến cho đời, cho văn chương. Làm con rể Sơn La - Tây Bắc, làm "cán bộ cắm bản" nên anh phải nhanh chóng học tiếng Thái để hội nhập với «Ải Êm pi noọng». Từ đó anh được chìm mình giữa cái nôi văn hoá Thái bập bùng đêm đêm trên nhà sàn bếp lửa, bên sàn Hạn Khuống cùng trai gái nơi thôn bản sinh hoạt cộng đồng như tham gia lễ hội, ma chay cưới xin, lễ xuống đồng, lễ lên nhà mới cùng nhẩy sạp, ném còn, uống lẩu xiêu(rượu cất) bằng bát, vít cần uống rượu rót sừng trâu; nghe và hát "khắp" những câu dân ca Thái «Sống Chụ Son Sao»... Cả một miền Văn hoá Thái cứ thế ngấm dần vào từng sợi tế bào cơ thể, trải rộng suốt tâm hồn vốn mênh mang thi sĩ của anh:
«Chai rượu ngất ngư bên bếp lửa
Được chết trong say đắm mắt nàng».
(Lên Mai Châu ngủ nhà sàn)
«Chiều phố Vọng» là tập thơ thứ tư của Nguyễn Khôi. Hình như đây là tập thơ anh in để trả nợ những vùng đất anh đã từng đặt dấu chân qua. Mỗi bài thơ hiện về một tên đất, tên người, dòng sông bến nước:
«Ơi Tha La, xóm Dừa em có nhớ?
Mấy mươi năm ly khách biệt phương trời
Mấy mươi năm vầng trăng nào có ngủ
Đợi người về... tóc bạc giãi trăng soi...».
(Gửi Tha La)