
TS. Mai Thị Liên Giang - ĐH Quảng Bình
Nhà nghiên cứu văn học Lý Hoài Thu đã có một số tác phẩm phê bình được in những năm gần đây như Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám - 1945, Nxb Giáo dục 1997; Đồng cảm và sáng tạo, Nxb Văn học 2006, Lưu Quang Vũ về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, 2006 ... Tuy số lượng tác phẩm xuất bản không nhiều nhưng mỗi công trình đều để lại những ấn tượng khó quên trong lòng bạn đọc và trong giới bạn bè văn nhân của chị. Năm 2015, tập Tiểu luận - Phê bình - Đối thoại Văn nhân quân đội được Nxb Văn học ấn hành đã tiếp tục khẳng định khả năng đọc sáng tạo của chị trong lĩnh vực văn học quân đội. Một mảng văn học quan trọng của nền Văn học Việt Nam nhưng không phải ai cũng có thể đọc được, thấu hiểu được và say mê đồng sáng tạo được như chị. Đặc biệt với các nhà nghiên cứu văn học quân đội "sinh sau chiến tranh" thì phải xem chị là một trong những bậc thầy đáng kính.
Kết hợp các bút pháp phê bình vừa truyền thống vừa hiện đại, Lý Hoài Thu có những phát hiện mới về văn học quân đội qua tác phẩm của các nhà văn đã trở thành những người bạn quen thuộc của nhiều thế hệ bạn đọc như Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Vương Trọng, Chu Lai, Lưu Quang Vũ, Trần Đăng Khoa, Trần Anh Thái. Ngoài ra, các giả Lê Thành Nghị, Trần Kiếm Qua, Hồ Phương, Phạm Hoa, Đào Thắng cũng được Lý Hoài Thu giới thiệu khái quát như những giai điệu mới của văn học quân đội. Nhẹ nhàng sâu lắng và chút duyên thầm, tác giả đã gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ mới đối với văn học quân đội từ bút pháp phê bình ấn tượng truyền thống kết hợp với phê bình thi pháp, kí hiệu học, văn hóa học và mỹ học tiếp nhận. Những ai từng nghĩ văn quân đội là chỉ nói đến chiến tranh, bom đạn, chết chóc... đều phải suy nghĩ lại khi đọc tập tiểu luận - phê bình - đối thoại của Lý Hoài Thu.
1. Phương pháp Phê bình Ấn tượng đã xuất hiện đầu thế kỷ XX. Vận dụng tốt phương pháp này, người đọc có thể kịp thời phát hiện ra sự tiến bộ của văn học. Trong lịch sử nghiên cứu văn học Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đã thành công với Phê bình Ấn tượng. Đây là một trong những phương pháp tiếp cận giúp người đọc phát hiện ra những điểm riêng biệt của tác phẩm. Sử dụng phương pháp này, Lý Hoài Thu đã ghi lại những cảm nghĩ, những ấn tượng độc đáo, những rung động chủ quan nhưng rất cần thiết về văn học quân đội. Các bài viết sử dụng tối đa bút pháp phê bình này vì vậy chính là cảm xúc cá nhân, thể hiện quá trình dọc công phu của chị nên thường tạo được sức thu hút ở những phát hiện mới. Những bài viết của chị ở dạng này thường có những nhận định bất ngờ về tác phẩm, mang lại sự hấp dẫn cho người đọc. Phê bình văn học quân đội của chị là quá trình sáng tạo nghệ thuật kết hợp với những lần phiêu lưu trên những trang văn đầy thi vị. Chị đã không ngần ngại diễn đạt những cảm xúc tâm hồn khi chiêm nghiệm tác phẩm văn học quân đội. Trong quá trình đọc ấy, khen có, chê có nhưng tất cả đều được trình bày một cách từ tốn, nhẹ nhàng, khoa học. Từ quá trình đọc sáng tạo, ở một số bài viết, Lý Hoài Thu đã gạt bỏ các nguyên lý lý luận có sẵn, chị đặt niềm tin vào tác phẩm và trực giác của bản thân để đánh giá tác phẩm. Không để mối quan hệ cá nhân xen lẫn vào khoa học, nhà phê bình đã ghi lại những ấn tượng nghệ thuật do tác phẩm để lại một cách khách quan. Với thơ Lưu Quang Vũ là ấn tượng gió và tình yêu thổi mãi. Hình ảnh nàng cũng là ấn tượng giúp chị viết "Về thôi - nàng ơi" khi đọc Về thôi nàng Vọng phu của Vương Trọng. Về tập truyện ngắn Ông trùm của Hồ Phương, chị ghi nhận tập truyện góp phần vào nguồn dung lượng hiện thực dồi dào của văn xuôi những năm gần đây. Cái phần đọng lại của tập sách theo chị là lương tâm, là trách nhiệm của tác giả trước số phận con người, đặc biệt là sự ưu ái mà nhà văn đã dành cho số phận của lớp trẻ và những người phụ nữ. Nhưng cũng từ ấn tượng chung, Lý Hoài Thu cho rằng "Tập sách của anh không có những nhát xén ngang bạo liệt, những xung động gắt gao, những kết cục bị thảm mà ta rất dễ gặp trong văn học những năm gần đây. Dường như nhà văn vẫn giữ cái "tạng' của anh nên nhân vật chủ yếu được khai thác ở phần tốt đẹp, phần "người" nhất trong mỗi con người. Ngay cả những được xếp vào hạng xấu nhất, Hồ Phương cũng không nỡ để họ mất hết phần nhân tính của mình" (1 - 120). Những nhận định của chị rất cần cho nhà văn Hồ Phương nếu anh tiếp tục viết tác phẩm về chiến tranh, về xã hội, về con người Việt Nam. Phạm Hoa trong vòng đua với trò đùa của tạo hóa là ấn tượng của chị khi đọc tác phẩm Mỗi thời của họ - Phạm Hoa. Đọc tập truyện Ngày ấy không quên chị nhận định "cuốn sách không chỉ khơi dậy trong lòng bạn đọc sự xúc động sâu xa về tình đồng đội ấm áp, tình người sâu nặng mà còn là một nguồn tư liệu có giá trị" (2 - 137). Chị thẳng thắn bày tỏ: chất lượng của các trang viết chưa đồng đều, đồng thời chị cũng rất tinh tế khi bày tỏ ý kiến tập sách "không chỉ góp phần làm phong phú thêm diện mạo của đời sống văn học sau chiến tranh mà còn là một hướng đi đúng giúp thế hệ trẻ tìm về với cội nguồn sức mạnh dân tộc" (3 - 138). Và cũng nhờ có được trực giác nhạy bén, Lý Hoài Thu đã ghi lại ấn tượng về thơ Hữu Thỉnh khá độc đáo: Cây như là sinh mệnh thứ hai. Từ góc nhìn này, Lý Hoài Thu có những nhận xét tinh tế: "Thơ Hữu Thỉnh ...là sự kết hợp giữa tâm cảm và suy tưởng giữa những rung động mãnh liệt, và sự thông minh sắc sảo của lý tính. Những câu chuyện về cây trong thơ ông, vì lẽ đó là sự khúc xạ và thăng hoa của tư tưởng nhân sinh. Mỗi bài thơ là một tự sự nhỏ về đời sống đa màu..." (4 - 86). Chị nhận định: "từ không gian vô bờ của thiên nhiên, biểu tượng cây trong thế giới thơ Hữu Thỉnh thực sự là cả một cõi nhân gian, cõi người với bao vui - buồn, sướng khổ, được mất..." (5 - 91). Theo Lý Hoài Thu, trong hệ sinh thái bao bọc đời sống nhân thế, nhà thơ đã lựa chọn cây để ký thác những tâm tư và suy nghĩ, cảm xúc và tư tưởng của một ngòi bút từng trải mà mộng mơ, sâu sắc, tài hoa mà thanh thoát, tinh tế, ham triết lý mà vẫn đằm thắm, tình tứ...Những thông điệp, nghệ thuật được nhà thơ gửi gắm vào cây giàu ý nghĩa nhân văn bởi nó thể hiện tình thương yêu, nỗi đau và niềm tin trước cuộc đời...Như vậy, phê bình ấn tượng không phải là bút pháp chính của tập sách nhưng đã góp phần thể hiện một phong cách phê bình riêng biệt của Lý Hoài Thu. Kết hợp với phê bình ấn tượng trong công trình của Lý Hoài Thu chính là thi pháp học.
2. Việc vận dụng phương pháp Thi pháp học trong nghiên cứu văn học trở nên phổ biến ở nước ta những năm gần đây. Đây là cách các nhà nghiên cứu khảo sát và phân tích các tác phẩm để tìm ra những nét chung, những điểm bền vững của hệ thống hình tượng, của các phương thức biểu hiện nghệ thuật. Từ đó, nhà phê bình có thể tìm thấy những nét tiêu biểu cho phong cách sáng tạo của một nhà văn, một khuynh hướng văn học, một nền văn học dân tộc. Nhiều nhà nghiên cứu từ sau 1986 đến nay đã sử dụng thành công phương pháp nghiên cứu văn học từ Thi pháp học như: Trần Đình Sử, Mã Giang Lân, Hồ Thế Hà, Lê Tiến Dũng, Lưu Khánh Thơ, Nguyễn Đăng Điệp, Hoàng Thụy Anh... Sự thành công ở những công trình nghiên cứu của những tác giả này cho cho thấy thi pháp học góp phần nhận diện đầy đủ hơn vẻ độc đáo của thế giới nghệ thuật. Đóng góp của thi pháp học không chỉ dừng lại ở chỗ tái hiện khuôn diện của từng thế giới tinh thần mà còn chỉ ra cái lý nào, những nguyên tắc nghệ thuật nào đã tạo nên vẻ phong phú của thế giới nghệ thuật ấy. Một khi chỉ ra được những nguyên tắc nghệ thuật cơ bản chi phối quá trình sáng tạo, các nhà nghiên cứu sẽ khái quát được những đóng góp của văn học ở phương diện cấu trúc.
Hiểu rõ phê bình ấn tượng chỉ phù hợp với một số hiện tượng văn học nhất định, Lý Hoài Thu đã có sự vận dụng khéo léo bút pháp thi pháp học. Sử dụng một số các yếu tố cơ bản của thi pháp, tác giả đã khái quát về không gian Trường Sơn và những giai điệu tình yêu trong thơ Phạm Tiến Duật. Từ góc nhìn không gian nghệ thuật, tác giả nhận xét đó vừa là không gian sử thi, vừa là không gian đời thường, vừa thơ mộng trữ tình, vừa dữ dội khốc liệt. Không gian chiến tranh tưởng như thơm tho hơn bởi trong một tương phản đối lập gay gắt, nhà thơ vẫn cảm nhận đầy đủ sự quyến rũ và sự thăng hoa của bản sắc nữ. Bằng một góc tiếp cận hiện thực gần gũi, Phạm Tiến Duật đã "nhào nặn" lại không gian cây cao bóng cả, hoang sơ, hùng vĩ để thành một không gian gần gũi, thân thiện hơn. Từ một phương diện khác, Lý Hoài Thu nhận xét: "Với độ lùi của thời gian, nhìn nhận lại những chấn thương của cuộc chiến tranh tàn khốc, cũng như nhiều cây bút cùng thế hệ, Phạm Tiến Duật đã viết về chiến tranh bằng một tâm thế khác. Giữa hai chiều thời gian quá khứ và hiện tại là dấu hiệu "mờ nhòe" giữa không gian vật thể và đã "hóa thạch" thành một miền ký ức sâu thẳm, nhưng nó luôn trỗi dậy trong tận cùng nỗi buồn thương của nhà thơ sau mỗi lần gặp lại những "em gái thanh niên xung phong", những "cô bộ đội" thuở nào" (6 -26). Từ góc nhìn không gian, tác giả phân tích: "Qua những câu chuyện tình xúc động, có sức lan tỏa, Phạm Tiến Duật đã thắp sáng ngọn lửa lý tưởng và vẻ đẹp rạng ngời của chân dung tinh thần người lính thời chỗng Mỹ. Những giai điệu tình yêu được cất lên giữa không gian Trường Sơn trong thơ Phạm Tiến Duật ngày ấy đã sống mãi với thời gian và là những bài ca đi cùng năm tháng" (7 - 28, 29). Cũng từ thi pháp học, khi đánh giá thơ Hữu Thỉnh - một hướng tìm tòi và sáng tạo từ dân tộc đến hiện đại, Lý Hoài Thu cho rằng ảo giác trong thơ Hữu Thỉnh là sự thể hiện tư chất lành mạnh, trong sáng của tâm hồn người lính, đồng thời cũng là một cách thức mở rộng không gian hiện thực của thơ. Theo dòng tâm trạng, qua ảo giác, anh đã tạo ra nhiều đường nét, hình khối không gian thật đẹp, nên thơ và khoáng đạt. Trong thơ Hữu Thỉnh, theo chị vì vậy có những mảng không gian hư hư thực thực chứa nhiều ẩn ý. Mặt khác có khi tầm cao, bề rộng của không gian, chiều dài của thời gian được nhân lên theo kích thước của tâm hồn... Có thể nhận thấy , Lý Hoài Thu là người yêu không gian nghệ thuật. Những trang viết của chị về không gian nghệ thuật của văn học quân đội đều rất độc đáo. Chị có những phát hiện bất ngờ không giống ai. Nhờ cách phân tích của chị, người đọc hiểu thêm, cũng có khi chịu áp lực của cảm xúc, cấu trúc không gian trong thơ Hữu Thỉnh không còn là sự hài hòa, cân xứng mà trở nên chao đảo, xô lệch... Không gian tình yêu, không gian chiến tranh, không gian nắng gió, không gian mưa, không gian con đường xuống chợ ngày giáp Tết với gió mưa vương vấn, với hoa cải vàng và giàn gấc chín... trong thơ Lê Thành Nghị. Không gian dòng sông, thời gian bốn thế hệ vừa quen thuộc vừa mới mẻ trong tác phẩm của Đào Thắng. Theo chị, tác phẩm của Đào Thắng tạo ấn tương mạnh hơn về không gian. Theo dòng cốt truyện và đường đời nhân vật, tác phẩm mở ra nhiều khoảng không gian, trong đó cũng có những không gian rộng nhưng rõ nét hơn cả trong tâm trí độc giả là những mảng không gian có kích thước vừa và nhỏ. Yếu tố thời gian theo chị cũng được Đào Thắng xử lý khá linh hoạt. Bao trùm xuyên suốt tác phẩm là một dòng thời gian dài, vận động từ khoảng những năm đầu đến gần thập niên "áp chót' thế kỷ 20. Đó là quãng thời gian đủ để nhà văn mô tả bốn thế hệ tiếp nối của một dòng họ lớn và danh tiếng khắp vùng... Đi vào cụ thể, tác giả đã biết ngắt quãng, đa dạng hóa hình tượng thời gian bằng thủ pháp đồng hiện, bằng cách đảo trật tự thời gian qua ký ức, hoài niệm, những giấc mơ, bằng sự điều chỉnh nhịp độ nhanh chậm của thời gian ứng với những mô hình không gian" (7 - 148). Còn không gian trong kịch Lưu Quang Vũ theo chị có nhiều tầng, nhiều mảng, rộng và hẹp, cao và thấp, cả không gian vật thể lẫn không gian tâm tưởng: Từ nhà máy đến đồng ruộng, từ phố xá ồn ào đến chốn rừng núi âm u, từ nhà ga đến bệnh viện, từ một căn phòng nhỏ hẹp đến một hang sâu chìm khuất giữa những cánh rừng Trường Sơn...Tất cả là môi trường bao bọc để con người sống và hành động. Nó lần lượt hiện lên với những bước chân và hồi ức của các nhân vật. Cũng như thời gian, không gian kịch Lưu Quang Vũ đa dạng Không chỉ khám phá ra những góc nhìn mới về không gian của các nhà văn, chị còn phát hiện ra yếu tố thời gian khá độc đáo như thời gian giới hạn tuổi tác ở Mưa trong thành phố của Lê Thành Nghị... Cũng từ quan điểm tự sự học, Lý Hoài Thu đã rất khách quan khi phân tích đặc trưng về điểm nhìn trần thuật, nhân vật người kể chuyện, lối kết thúc mở...trong Dòng sông mía của Đào Thắng. Theo đánh giá của tác giả thì những tìm tòi thuộc quỹ đạo thi pháp thể loại mang dấu ấn của nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại. Đối với kịch của Lưu Quang Vũ, Lý Hoài Thu tập trung khai thác các yếu tố xung đột của thời hậu chiến giữa cái tân tiến và cái bảo thủ, trì trệ, nhân tính và phi nhân, đạo lý và thất đức...qua các tác phẩm Tôi và chúng ta, Khoảnh khắc vô tận, Nếu anh không đốt lửa, Quyền được hạnh phúc. ...Các yếu tố nhân vật phân thân, cốt truyện ổn định về nội dung và tư tưởng, thời gian và không gian nhiều biến hóa và gợi cảm, ngôn ngữ chắt lọc và điêu luyện trong kịch Lưu Quang Vũ được tác giả sắp xếp lại, bình phẩm, đánh giá một các khách quan. Còn khi bình luận về Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương, tác giả chủ yếu khảo sát những ưu điểm của thể hồi ký, nghệ thuật kể chuyện. Theo chị thì tác giả có một lối trần thuật chủ quan càng về cuối càng nồng. Đối với tập truyện ngắn Phố nhà binh, Lý Hoài Thu đã khai thác được sự đa dạng về màu sắc thẩm mỹ, đa chiều về thời gian, không gian, đa thanh về giọng điệu, âm hưởng, nghệ thuật... Thi pháp học trong phê bình của chị đã được vận dụng phù hợp qua mỗi hiện tượng văn học cụ thể. Để khai thác tối đa ý nghĩa của phẩm, tác giả còn vận dụng kết hợp giữa phê bình thi pháp với kí hiệu học và văn hóa học.
3. Trong quá trình đọc tác phẩm văn học, không có gì thông thường hơn bằng sự thể nghiệm các mã kí hiệu và văn hóa ẩn trong ngôn ngữ. Điều này tự nhiên đến nỗi như không có gì để bàn thêm. Vận dụng phương pháp kí hiệu học phối hợp với văn hóa học, Lý Hoài Thu đã chú ý tới hai điểm nhìn không giống nhau khi phân tích tác phẩm. Một là văn học quân đội được tác giả đặt trong mối quan hệ của sự đa dạng lịch sử hoặc xã hội, tập thể hoặc cá nhân. Hai là kí hiệu ngôn ngữ, văn hóa được tác giả để ý đến một cách lôgic như là bản kí hiệu bí mật ngôn ngữ ẩn dấu trong từng tác phẩm. Những lúc đó, chị vừa đóng vai trò là người đọc như một nhân vật tham gia vào tác phẩm vừa giống như một người đang nghe tác phẩm. Những phát hiện này đã tạo nên ý nghĩa mới cho văn học quân đội. Thực chất, kí hiệu học có mầm móng từ quan niệm ngôn ngữ học cấu trúc của F. de. Saussure, bắt đầu hình thành từ chủ nghĩa hình thức Nga những năm đầu thế kỷ XX nhưng phải đến giữa thế kỷ mới đạt đến sự hoàn thiện như một hệ thống lí thuyết. Cũng tiếp tục đề cao vai trò hình thức trong việc xem văn bản là trung tâm nghiên cứu nhưng nếu chủ nghĩa Hình thức đặt trọng điểm ở chất liệu ngôn ngữ, ở thủ pháp, kỹ thuật thì chủ nghĩa Cấu trúc lại đi vào khám phá kết cấu chiều sâu của văn bản. Đến giai đoạn cuối, sau những năm 80, quan điểm hậu cấu trúc (hay giải cấu trúc) đã đối lập với chính điểm xuất phát ban đầu của nó. Jan Mukarovski (đại diện lớn nhất của trường phái cấu trúc Praha) và Iu. M. Lôtman đã tiếp tục đề cao việc vận dụng những thành tựu nghiên cứu kí hiệu học về ngôn ngữ, lí thuyết kí hiệu. Tuy nhiên cách lý giải của những tác giả này về sau tỏ ra cởi mở hơn trong ý thức về tính không tuyệt đối của khái niệm văn bản. Họ đã phản biện lại những quan niệm đồng nhất văn bản với cách hình dung toàn vẹn về văn bản bằng cách đặt những vấn đề như sự kiện kí hiệu và cấu trúc mở của tác phẩm văn học. Mặc dù có những điểm cực đoan nhưng các nhà hình thức chủ nghĩa đã có những đóng góp quan trọng trong việc làm thay đổi hẳn một thói quen có từ trong nền tảng tư duy lí luận văn học đã trở nên lỗi thời, đưa lại một cách nhìn mới cho nghiên cứu văn học. Vận dụng phương pháp này, Lý Hoài Thu đã có những trang viết cẩn thận, phát hiện ra những tầng nghĩa sâu sắc trong văn học quân đội. Khi đọc thơ Hữu Thỉnh, chị cho rằng trong quần thể thiên nhiên sống động, nhiều màu, cây thực sự là một ký hiệu nghệ thuật, một sinh mệnh thơ ca không chỉ bởi sự hiển thị của tần số văn bản mà sâu xa hơn là ở sự chuyển tải cảm xúc và trí tuệ nhà thơ. Đặc biệt, theo chị, trong thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh, "hình cây bóng lá" là một kiểu nhân vật trữ tình chứa đựng nhiều cung bậc tình cảm, những vui buồn riêng tư và nỗi niềm nhân thế. Nó là sự kết hợp giữa "mã tư tưởng" và "mã nghệ thuật". Chị có những phát hiện bất ngờ như: Hữu Thỉnh đã nhận ra sự tàn phá khốc liệt và những vết thương âm ỉ, nhức nhối của chiến tranh. Nương tựa vào thiên nhiên, con người được xoa dịu và tiếp thêm sức lực. Bên cạnh việc quan tâ đến các mã kí hiệu, Lý Hoài Thu cũng nhiều lần nói đến các tầng văn hóa hiện tồn trong từng tác phẩm. Văn hóa trong văn học quân đội chính là môi trường sống của con người, của các nhân vật về cả mặt tinh thần và vật chất. Sức sống văn hóa trong văn học quân đội chính là ở chỗ nó chấp nhận cộng sinh văn hóa, tiếp biến văn hóa để đi đến giao thoa, hội nhập. Văn học quân đội như vậy theo chị cũng đã góp phần bảo lưu và sáng tạo văn hóa dân tộc. Điều quan trọng là tác giả hiểu rõ khi vận dụng bất cứ một phương pháp tiếp cận nào thì cũng đã ngầm ẩn trong nó những yếu tố về kí hiệu ngôn ngữ, về văn hóa. Nhận xét về kí hiệu cây trong thơ Hữu Thỉnh, liên tưởng với các chi tiết văn hóa liên quan, chị có những lời bình rất ấn tượng như: Nếu trước kia cây biểu trưng cho sự sống , đối lập với chiến tranh, sự chết choc, có khả năng lan tỏa niềm vui như "những lá cây còn lá trong cây" "Trận đánh ngày mai thức dậy với mầm cây...thì giờ đây cây là hiện tồn của cá thể, mang tâm thế của con người thời hậu chiến: cô đơn, hoang mang, hoài nghi, mất niềm tin, mất khả năng tự bảo vệ mình. Chị nhận định nếu trước kia cây và người cùng nối vòng tay lớn để phá vỡ giới hạn, mở rộng kích thước của tình yêu thương nồng hậu, để cùng vui trong ngôi nhà chung của vũ trụ, giờ đây khi cái ác bủa vây, len lỏi cây bỗng thành nỗi sợ. Hình tượng cây gợi lên sự tha hóa về con người...Từ cách nhìn này đôi lúc người đọc ngỡ như chị vừa đọc tác phẩm vừa thể hiện quan niệm của chị về nghệ thuật, về văn hóa, về cách sống, cách ứng xử lịch lãm với cuộc đời. Theo cách nói của chị thì cây như là liều thuốc hữu hiệu để "xả stress", để mang đến cho con người nhịp sống thanh thản, nhẹ nhõm. Điều đó chỉ có thể hiện hữu khi mỗi cá nhân ý thức được một cách sâu sắc "thiên chức sống" của minh thiện tâm và bác ái...Và cao hơn tất cả là khi con người sống với cây xanh, chan hòa than thiết giữa thiên nhiên, họ sẽ tìm thấy ý nghĩa đích thực của sự sống, tình yêu. Các nhà nghiên cứu hiện nay thường hay nói về xu hướng nghiên cứu đa chiều, nghiên cứu liên ngành trong khoa học. Thiết nghĩ, văn học quân đội cũng cần được xem xét trong quá trình này. Chẳng hạn, khi nghiên cứu tác phẩm của Lưu Quang Vũ, Trần Đăng Khoa, Hữu Thỉnh, Trần Anh Thái... chúng ta không thể chỉ nói đến các yếu tố như kết cấu, thể loại, ngôn từ, giọng điệu, không thời gian một cách thuần túy mà cần xem xét nó như là một biểu hiện phong phú và đa dạng của tầng tầng lớp lớp các kí hiệu, các tầng văn hóa dân tộc, và thậm chí là cả hệ sinh thái... Nhưng sẽ thiếu sót nếu không nói đến việc vận dụng mỹ học tiếp nhận phối hợp trong phê bình của Lý Hoài Thu.
4. Nếu vận dụng cách lý giải của Tường giải học và Mỹ học tiếp nhận thì quá trình xác lập đời sống cụ thể của văn học quân đội thông qua cách đọc của Lý Hoài Thu đã mang lại những điểm lý thú. Chẳng hạn nếu xem các tác phẩm văn học quân đội cũng là một vật vì nó như khái niệm Ingarden nói khi phân tích về tác phẩm văn học thì khi đọc, chúng ta có thể bỏ qua mối quan hệ của chúng với tâm lý, môi trường văn hóa cùng với những trào lưu tinh thần hình thành trong quá trình lịch sử. Việc xác lập đời sống các tác phẩm của Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Vương Trọng, Chu Lai, Lưu Quang Vũ, Trần Đăng Khoa, Trần Anh Thái, Lê Thành Nghị, Trần Kiếm Qua, Hồ Phương, Phạm Hoa, Đào Thắng cần tách ra khỏi những ấn tượng tâm lý mà chúng ta trải qua khi đọc. Bởi trong khi tiếp cận tác phẩm văn học, những hoạt động và ấn tượng chủ quan sẽ được thực hiện có nhiều loại và phức tạp nên người phê bình chỉ có thể tiếp cận được tác phẩm nếu biết cách ly khỏi mọi sự tác động quấy nhiễu. Tuy nhiên ở đây Lý Hoài đã không để xảy ra việc người đọc vô tình cách ly và triệt tiêu mọi ấn tượng và trạng thái tâm lý thuộc về đời sống hiện thực. Chị cũng không tập trung vào văn bản đến mức quên cả những gì đang diễn ra xung quanh. Bởi sự ra đời của các tác phẩm văn học quân đội không thể không bị ảnh hưởng bởi những đặc điểm xã hội và đó là lẽ đương nhiên. Nhưng nếu được đặt trong mối quan hệ mật thiết với người đọc, đưa vào đời sống văn hóa tinh thần cụ thể, các tác phẩm của các nhà văn nói trên đã bộc lộ những khoảng trống đang chờ đợi người đọc nhập cuộc. Và chính nhà phê bình Lý Hoài Thu đã chỉ ra được những khoảng trống đó. Mặc dù chưa khái quát đời sống tiếp nhận của các hiện tượng văn học này nhưng phần nào đó trong quá trình phê bình, Lý Hoài Thu đã nói đến tâm trạng và quan điểm đánh giá chung của người đọc đối với tác phẩm của các nhà văn. Chị viết: "Có người cho rằng: tập truyện của Hồ Phương quá hiền. Kể cũng có lý". (9 - 120). Đây chính là cách cách nhà phê bình quan tâm đến người đọc, không chỉ đối thoại với tác giả, với văn bản mà cả đối với người đọc để tìm ra cách đánh giá phù hợp nhất cho tác phẩm theo cách của riêng mình. Để tránh sự chi phối mạnh mẽ bởi những quan điểm xã hội đến mức lấn át giá trị văn học, khi đọc tác phẩm, Lý Hoài Thu cũng đã chú ý tránh xa những mối quan hệ xã hội và những sự kiện bên lề cuộc sống như là những yếu tố gây phiền phức cho phê bình. Giọng bình văn của chị vì thế đã thể hiện một tư thế đọc thoải mái và một sự tập trung khoa học tối đa. Sự độc lập với thế giới hiện thực của các nhà văn một mặt dẫn đến kết quả là các tác phẩm đã tạo nên thế giới riêng cho chị, mặt khác nó tạo điều kiện để chị thể hiện những cách lí giải khách quan, trong sáng trước các tác phẩm. Đó cũng là điều kiện tốt để Lý Hoài Thu lý giải hết những giá trị thẩm mỹ của văn học quân đội và cũng là điều kiện để chị tạo nên một lối đi riêng, một mối quan hệ sinh động, khác biệt, cẩn trọng với một trào lưu văn học. Sự phong phú của các ấn tượng tiếp cận của Lý Hoài Thu với mỗi tác giả cụ thể qua các tác phẩm chị kể lại với người đọc có thể giúp rút ngắn khoảng cách giữa người đọc và văn học quân đội, nhanh chóng hiểu sâu hơn về một trào lưu văn học. Trong quá trình đọc, Lý Hoài Thu đã chỉ nghĩ đến việc cần phải tìm kiếm giá trị đích thực của văn học quân đội trong tâm hồn người đọc. Bản thân văn học quân đội cũng chỉ trình diện với người đọc một cách trọn vẹn trong hình thức của nó. Vì vậy sự xác lập đời sống cụ thể của văn học quân đội thông qua người đọc cũng là quá trình góp phần xác định vị trí bản thể của tác phẩm văn học Việt Nam hiện nay. Việc đọc văn học quân đội luôn gắn với những câu hỏi như: "làm sao để hiểu" và "bản chất của sự hiểu văn học quân đội là gì". Mỗi câu trả lời cho mỗi câu hỏi tức là đã phát triển giá trị của văn học quân đội theo những chiều hướng khác nhau. Lý Hoài Thu đã trả lời câu hỏi thứ nhất, tức đi tìm những nguyên tắc, điều kiện và giới hạn để xây dựng một tầm hiểu biết khách quan về một hiện tượng thơ ca, giá trị của văn học quân đội được nảy sinh theo hướng phương pháp phê bình ở nghĩa thông thường. Nhưng nếu chúng ta đặt trọng tâm vào câu hỏi thứ hai, về chính bản chất của sự thấu hiểu ngôn từ thì giá trị văn học quân đội gắn liền với bản thể của nhà phê bình nữ này. Cũng như bất cứ một hiện tượng văn học nào khác, văn học quân đội luôn cần đến một sự hiểu thấu suốt, biết trọn vẹn. Thế nên mỗi một sự lý giải về văn học quân đội của Lý Hoài Thu ở mỗi thời điểm khác nhau luôn được đặt trong cái toàn thể hay nói cách khác là trong quá trình tiếp nhận của chính chị và cả những người đọc chị chợt nhớ đến trong quá trình phê bình. Quá trình đọc này của chị luôn trong tình trạng biến dịch không ngừng qua mỗi tác phẩm. Vì vậy không chị đã không tự cho mình cái độc quyền nắm giữ, hiểu biết và định đoạt giá trị văn học quân đội. Nhất là đối với những tác phẩm luôn tiềm ẩn những năng lực sáng tạo, chị đều dành cho họ những cơ hội cho người phê bình sau. Chẳng hạn chị viết về Hồ Phương "Dù rằng, đối với một cây bút như Hồ Phương, người đọc còn đòi hỏi nhiều hơn" (10 - 121). Hoặc khi đánh giá về thơ Hững Thỉnh, chị viết: "Khi sự bạc bẽo dối lừa thay thế tình nghĩa, thủy chung, con người tất yếu sẽ rơi vào niềm tin. Thơ Hữu Thỉnh vì vậy bỏ ngỏ nhiều câu hỏi dồn dập, gay gắt, chưa thể tìm ra lời giải đáp" (11 - 84). Hay trong các đối thoại với Trần Đăng Khoa, Chu Lai, Trần Anh Thái, chị đều tạo khoảng trống hội thoại cho người đọc. Đây chính là nét duyên riêng của Lý Hoài Thu trong việc sử dụng phương pháp phê bình này. Người ta thường đánh giá tác phẩm nghệ thuật theo các tiêu chí thẩm mỹ. Chẳng hạn cái đẹp của ngôn từ trong văn học, quy luật đối xứng, hài hoà, màu sắc, độ sáng tối...trong hội hoạ; giai điệu, tiết tấu trong âm nhạc...Nhưng trong văn học, những chuẩn mực thẩm mỹ còn thay đổi tuỳ theo người phê bình. Riêng với phong trào văn học quân đội, theo chúng tôi, cái "duyên" của mỗi người đọc mang lại trong lịch sử tiếp nhận có vai trò rất quan trọng. Mỗi người đọc thể hiện một nét "duyên" khác nhau trong khi đọc nhưng khó có ai khẳng định cái "duyên" ấy sẽ tạo nên được vẻ đẹp toàn thể cho văn học quân đội. Mỗi cái "duyên" riêng của họ thực chất đang bổ sung cho nhau trong quá trình tiếp nhận. Bởi trong thực tế có những lúc chính bản thân các phương pháp phê bình với các đặc điểm, nguyên tắc của nó cũng có thể tạo nên sự khô cứng, máy móc, nặng về kinh điển trong nghiên cứu văn học quân đội. Vì vậy sự đòi hỏi tính chất khách quan của người phê bình là cần thiết. Lý Hoài Thu vừa đi sâu vào bản tính nhà văn để tìm ra bản chất văn học quân đội vừa tìm đến những điều kiện tiên nghiệm từ xã hội mang tính chất thực hành của văn học, đến chủ trương ngôn ngữ khách quan của mỗi tác giả, vừa có xu hướng nhấn mạnh tới vai trò của nhà văn trong quá trình tạo nên tác phẩm. Điều quan trọng là nhà nghiên cứu đã khơi dậy tình yêu văn học cho người đọc, tạo cơ hội cho người đọc được tham dự vào quá trình tái tạo sự hiểu biết trong văn học quân đội. Đây chính là một trong những yếu tố cơ bản liên quan đến các phương pháp phê bình văn học quân đội của Lý Hoài Thu. Nhiều đoạn trong các bài viết của chị thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp nghiên cứu. Chị có những lời bình xuất sắc minh chứng cho cách phối hợp độc đáo này. Thậm chí có lúc chỉ trong một câu, chị cũng đã thể hiện khả năng này như: "Cây trong hình dung của nhân loại, đặc biệt ở xứ sở "nhiệt đới buồn" là đồng nghĩa với bóng mát - Đó là lý do tồn tại, "ngôn ngữ sinh thái", giá trị thực tiễn", "giá trị mỹ học" mà con người hằng "đón đợi" (12 - 82). Trong cách đánh giá này có sự kết hợp cả phê bình ấn tượng, thi pháp, kí hiệu học, văn hóa học, mỹ học tiếp nhận và một phần của phê bình xã hội học, phê bình sinh thái. Thực chất ý nghĩa văn học quân đội không dừng lại ở đây nhưng nếu nói văn bản có khả năng tự thể hiện, chúng ta đã có thể bằng lòng với cách lý giải của Lý Hoài Thu. Trong thực tế, ở nước ta trong các hiện tượng văn học, các công trình nghiên cứu thường có hiện tượng cộng sinh giữa các phương pháp. Đây là điều tất yếu cho sự phát triển của quá trình lí giải tác phẩm văn học nếu đi từ cội nguồn của triết học, lí luận văn học và mỹ học.
Văn học quân đội trong quá trình đối thoại với chủ thể người đọc vẫn còn mở ra nhiều ý nghĩa. Để hiểu văn nhân quân đội, Lý Hoài Thu không chỉ đã biết được xuất xứ của nó mà còn cảm nhận được cái hiện hữu các tác phẩm ở thời hiện đại đang luôn sống với người đọc, cảm được điều mà các tác giả đang cảm thấy và đoán ra được ý hướng của họ. Có khi chị còn "cưỡng" lại những điều tác giả muốn người đọc tuân theo họ. Đó chính là khả năng của một nhà phê bình chuyên nghiệp. Lý Hoài Thu đã tạo cho người đọc có cơ hội sống và đối thoại với những sự kiện, truyền thống, tính chất kinh điển của văn học, ngôn ngữ, tập tục văn hóa, nghệ thuật, lịch sử con người được thể hiện trong văn học quân đội.
Chú thích:
1 - 12: Lý Hoài Thu, Văn nhân quân đội, Nxb Văn học, 2015.