.
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
TÓM TẮT
Việc đổi mới kiểm tra đánh giá góp phần quan trọng vào việc đổi mới phương pháp dạy và học ở đại học. Ưu điểm của đánh gía trong đào tạo theo học chế tín chỉ là đánh gía cả quá trình học và năng lực tự học của sinh viên. Điều quan trọng là phải xác định được những năng lực mà sinh viên cần đạt tùy theo đặc thù của ngành học để đáp ứng yêu cầu của xã hội. Cần tổ chức đa dạng các hoạt động đào tạo với cách đánh giá thích ứng để giúp sinh viên thể hiện được các năng lực hiện có, đồng thời nâng cao tiềm lực của mình. Cần mạnh dạn loại bỏ những quán tính cũ để xác lập một cách thức đánh giá hiệu quả và có độ tin cậy cao hơn.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đào tạo theo học chế tín chỉ là phương thức được nhiều nước tiên tiến trên thế giới áp dụng trong đào tạo bậc cao đẳng và đại học. Hơn một thế kỷ áp dụng ở các nước phương Tây chắc hẳn đã có được những kết quả mong muốn và những bài học kinh nghiệm đáng quý. Tất nhiên, không phải nước nào ở phương Tây cũng áp dụng phương thức này và thành tựu về giáo dục của họ cũng rất quan trọng. Ở nước ta, phương thức đào tạo này mới được làm thí điểm trong thập niên 90 của thế kỷ XX và cho đến nay có hơn 100 trường áp dụng phương thức đào tạo tín chỉ, mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo có khuyến nghị là đến 2011 các trường đại học và cao đẳng phải chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ. Những trường chưa chuyển sang phương thức mới có lý do riêng của họ. Những trường đã chuyển sang phương thức này cũng không phải không có những khó khăn; và nhiều người còn trăn trở để tìm biện pháp giữ vững và nâng cao chất lượng đào tạo. Việc áp dụng phương thức mới lại chuyển về mốc 2015. Có thể nói phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ thật ra "cũ người, mới ta". Đã có rất nhiều kinh nghiệm của những người đi trước để chúng ta học tập và vận dụng vào thực tiễn Việt Nam. Thế nhưng, trong thực tế, kinh nghiệm của người đôi khi lại rất khó áp dụng vào nước ta, một phần do khác biệt về văn hóa, phần quan trọng hơn do thói quen, điều kiện kinh tế xã hội, tư duy và nhiều yếu tố khác chi phối. Ở đây không có điều kiện để bàn sâu về những vấn đề này, chỉ đề cấp đến vấn đề đánh giá năng lực học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở nước ta hiện nay.
2. ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Ai cũng biết đào tạo theo học chế tín chỉ là một phương thức đào tạo linh hoạt, mềm dẻo, có khả năng thích ứng cao. Phương thức đào tạo này phù hợp khi chúng ta chuyển từ mô hình đào tạo tinh hoa sang mô hình đào tạo đại chúng. Nền kinh tế nước ta đang chuyển sang hướng thị trường; nhu cầu nguồn nhân lực đang biến đổi thường xuyên và đòi hỏi phải đạt được chất lượng cao. Đào tạo theo nhu cầu xã hội đã buộc chúng ta phải xóa bỏ tư duy bao cấp, xóa bỏ phương thức đào tạo cứng nhắc, làm những mẫu hàng có sẵn mà không quan tâm đến nhu cầu thực tế của xã hội. Nhận thức về thị trường lao động trong tình hình mới của chúng ta có những biến chuyển nhất định, tổ chức quản lý đào tạo của chúng ta có những thay đổi. Tuy vậy, nhìn vào thực tiễn hoạt động giáo dục ở nước ta hiện nay chúng ta thấy nhiều việc làm chưa đúng thực chất, còn mang bệnh hình thức và hiệu quả đạt được không cao. Chỉ đơn cử một vài ví dụ. Trong suốt một thời gian dài giáo dục đại học ở nước ta quan tâm nhiều đến "đầu vào"và do vậy công tác tuyển sinh mất rất nhiều thời gian và tiền bạc, những tưởng rằng "đầu vào" tốt tất yếu sẽ có "đầu ra" tốt. Điều này chỉ chắc chắn khi chúng ta kiểm soát được cả quá trình từ đầu vào cho đến lúc ra trường, thậm chí phải theo dõi sau khi ra trường kết quả làm việc như thế nào. Trong thực tế, học sinh chúng ta học ngày, học đêm để thi đại học và khi vào rồi thì sớm muộn cũng ra trường. Điều này sẽ dẫn đến thói quen là sinh viên ít nâng cao năng lực tự học trong môi trường đại học. Nhiều sinh viên chủ trương thầy dạy cái gì học cái ấy, đầu tư nhiều công sức làm gì cho vất vả. Và về phía người thầy, trong một thời gian dài chúng ta đánh giá sinh viên chủ yếu qua các bài thi hết học phần. Nhiều thầy cô giáo cũng chỉ kiểm tra năng lực nhớ và hiểu còn các mức độ khác ít khi được quan tâm. Quán tính này tạo cho sinh viên thói quen không chú tâm đến việc tự học ở trường, do vậy trường đại học có lúc hao hao như trường phổ thông cấp 4. Để xóa bỏ thói quen này không dễ, đòi hỏi phải chuyển động trong cả hệ thống, cả thầy lẫn trò và xa hơn nữa là cả người sử dụng sinh viên sau khi tốt nghiệp. Khi chuyển sang phương thức đào tạo mới chúng ta bước đầu có những thay đổi nhất định trong tư duy và trong cách làm. Chúng ta bên cạnh việc quan tâm " đầu vào" đã bắt đầu quan tâm "đầu ra". Dấu hiệu dễ nhận biết là các trường bắt đầu công bố "chuẩn đầu ra". Phong trào công bố chuẩn đầu ra khá rầm rộ trên các trang web của các Trường. Nhưng có ai quan tâm xem sinh viên khi muốn thi vào trường hay nhà tuyển dụng khi tìm kiếm nhân sự họ có vào xem "chuẩn đầu ra" của trường không? Nếu có chắc rất ít. Đa phần khi chọn thi vào trường họ được "nghe truyền miệng" về ngành học ở trường ấy ra trường dễ có việc làm hơn. Người tuyển dụng chủ yếu quan sát thị trường lao động và phải kiểm tra năng lực thực tiễn. Cứ thử xem chuẩn đầu ra của một số trường và một số ngành học ở nước ta sẽ dễ dàng nhận ra những chỉ số chung chung mà ít nhận ra những kỹ năng riêng biệt được xác định trong quá trình đào tạo. Điều này gây khó khăn cho những người tuyển dụng khi cần tuyển những người có những kỹ năng cụ thể liên quan đến lĩnh vực chuyên ngành. Điều đáng nói hơn nữa là chuẩn đầu ra đôi khi lại được "linh hoạt cho phù hợp với thực tế" làm phá vỡ tiêu chí đã xác định. Chỉ cần nêu một dẫn chứng: khi xác định chuẩn ngoại ngữ "đầu ra" nhiều trường muốn lấy chuẩn đánh giá của nước ngoài như Toefl, Toeic... để định chuẩn nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo. Thế nhưng, nếu lấy các chuẩn này khá cao thì sinh viên sẽ nợ lại ngoại ngữ và sẽ có hiện tượng "dồn toa" khi số sinh viên nợ ngoại ngữ khá nhiều. Đây cũng là một trong những lý do để sinh viên nước ta không sử dụng được ngoại ngữ sau khi tốt nghiệp đại học. Có thể nói, đôi lúc chúng ta xây dựng chuẩn đầu ra chỉ theo yêu cầu của cấp trên chứ chưa phải là nhu cầu khẳng định sản phẩm của chính chúng ta. Và dường như ở nước ta chuẩn gì cũng có thể "linh hoạt" cho phù hợp với thực tế. Đây là điều cần phải thay đổi cách làm, cách tư duy mới mong có thể hội nhập với quốc tế.
3. ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH TRONG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ
Vấn đề đánh giá quá trình trong đào tạo tín chỉ là vấn đề cần quan tâm nếu muốn nâng cao chất lượng đào tạo hiện nay. Vấn đề này trong thực tế triển khai còn nhiều bất cập, có nguy cơ làm giảm chất lượng đào tạo. Theo Điều 19 của Quy chế 43/2007/QĐ BGDĐT ngày 15 tháng 08 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo việc đánh giá học phần được quy định như sau:
"1. Đối với các học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành: tùy theo tính chất của học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần(sau đây gọi tắt là điểm học phần) được tính căn cứ vào một phần hoặc tất cả các điểm đánh giá bộ phận, bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần; điểm thi giữa học phần; điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và có trọng số không dưới 50%.
Việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận và trọng số của các điểm đánh giá bộ phận, cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh gía học phần do giảng viên đề xuất, được Hiệu trưởng phê duyệt và phải được quy định trong đề cương chi tiết của học phần.
2. Đối với các học phần thực hành: sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực hành. Điểm trung bình cộng của điểm các bài thực hành trong học kỳ được làm tròn đến một chữ số thập phân là điểm của học phần thực hành.
3.Giảng viên phụ trách học phần trực tiếp ra đề thi, đề kiểm tra và cho điểm đánh giá bộ phận, trừ bài thi kết thúc học phần".
Sở dĩ chúng tôi phải trích dẫn Quy chế để chúng ta dễ nhận diện vấn đề đánh giá trong đào tạo tín chỉ. Vì từ quy định của quy chế nhiều trường vận dụng "linh hoạt" và dẫn đến việc đơn giản hóa quá trình đánh giá làm ảnh hưởng chất lượng đào tạo. Điều đáng nói là quy định này Bộ Giáo dục và Đào tạo trao quyền cho giảng viên nhiều hơn trong việc đánh giá năng lực học tập của sinh viên. Giảng viên được trao quyền đánh giá quá trình học và trọng số lên đến 50 %. Thật ra 50% còn lại đa phần cũng do giảng viên giảng dạy quyết định vì họ là người tham gia chấm bài thi kết thúc học phần, chỉ có điều là không nhận biết trực tiếp về người học. Quyền được trao nhưng để thể hiện cái quyền ấy đòi hỏi nhiều điều kiện và về phía quản lý cũng có biện pháp theo dõi, chế tài để đảm bảo chất lượng đào tạo. Quan sát quy định học vụ của nhiều trường có thể thấy đa phần Hiệu trưởng không giao trọn 50% trọng số đánh giá kết quả cho giảng viên( có lẽ vì sợ không khách quan), mà chỉ từ 30% đến 40%. Thật ra ở nước ngoài Hiệu trưởng trao quyền này cho giảng viên nhiều hơn và họ cũng thực hiện tốt hơn quyền được trao. Có lẽ chúng ta cũng cần mạnh dạn thực hiện theo đúng khung quy định khi trao quyền cho giảng viên với điều kiện là giảng viên phải thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Ở đây chỉ xin bàn sâu hơn về thực tế việc đánh giá thường xuyên của giảng viên mà không bàn thêm về bài thi kết thúc học phần. Trước hết cần sử dụng đúng các thuật ngữ " điểm kiểm tra thường xuyên", " điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận", " điểm chuyên cần"...Không hiểu đúng thuật ngữ dễ dẫn chúng ta tùy tiện trong khi thực hiện. Theo dõi ở một số trường trong quy định học vụ có ghi rõ có bao nhiêu bài kiểm tra thường xuyên ( có nơi tùy thuộc vào số lượng tín chỉ); có trường giao hẳn cho giảng viên quyết định và công bố trong Đề cương chi tiết môn học được cung cấp cho sinh viên đầu học kỳ. Trong thực tế, giảng viên khi dạy theo học chế tín chỉ không thường xuyên theo dõi chuyên cần (một phần do lớp đông hơn các lớp niên chế trước đây), không kiểm tra thường xuyên để nhận biết quá trình tiến bộ của người học và chỉ kiểm tra 1 đến 2 lần ( vì giảng viên dạy nhiều và cũng ngại chấm nhiều bài nếu không có chế độ thanh toán thỏa đáng). Việc trao đổi và thảo luận trong các lớp đông cũng khó có điều kiện theo dõi, đánh giá cụ thể. Các tiểu luận, bài tập lớn được triển khai để khuyến khích sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học ở các trường đại học. Một số giảng viên quan tâm giúp đỡ sinh viên làm tốt công tác này, nhưng cũng có những giảng viên chỉ chấm bài làm của sinh viên nên không giúp cho sinh viên biết được những thao tác cơ bản khi làm các bài tập nghiên cứu khoa học. Hệ quả là cho đến khi làm khóa luận tốt nghiệp sinh viên chưa biết làm những công việc đơn giản nhất như cách ghi tài liệu tham khảo, cách trích dẫn trong công trình khoa học... Từ tình hình thực tế nêu trên có thể thấy chúng ta chưa thực sự an tâm về kết quả đánh giá quá trình học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở nước ta hiện nay. Nhìn kết quả đánh giá điểm chuyên cần và thái độ dường như rất ít độ sai khác,( ngoại trừ những sinh viên trốn học thường xuyên). Điểm kiểm tra thường xuyên chỉ được thực hiện thông qua một hai bài kiểm tra ngắn nên việc ghi nhận năng lực của người học rất khó chính xác. Và một thực tế cũng rất đáng lưu tâm là điểm qúa trình thường rất cao và có nhiều trường hợp cách rất xa điểm thi kết thúc học phần. Có thể nói gần 50% trọng số điểm được đánh giá trực tiếp bởi người dạy nhưng không tạo ra sự phận hóa cao giữa những sinh viên có năng lực học tập khác nhau. Điều này sẽ tiếp tục làm cho sinh viên không hứng thú trong việc nâng cao năng lực tự học và làm khó khăn cho việc đổi mới phương pháp dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở nước ta hiện nay. Quan sát một giảng viên nước ngoài đến dạy cho chương trình tiên tiến ngành Vật Lý tại trường Đại học Sư phạm Huế chúng tôi thấy bảng điểm quá trình của họ có 10 điểm kiểm tra thường xuyên; việc coi thi cuối học phần do họ tự đảm nhận và kết quả của học phần do họ quyết định nhưng chất lượng đào tạo đảm bảo, nhiều sinh viên tốt nghiệp tiếp tục theo học được ở các nước tiên tiến. Trao đổi vấn đề này với các bạn đồng nghiệp có người nêu nguyên nhân: giảng viên của họ chuyên tâm vì sống được bằng lương; họ dạy lớp ít người; họ có các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ; họ không phải kiêm nhiệm nhiều việc không tên khác v.v. Vấn đề đặt ra là trong điều kiện đời sống và cơ sở vật chất của chúng ta hiện nay chúng ta phải làm như thế nào để đảm bảo đánh giá được năng lực của người học trong đào tạo theo học chế tín chỉ. Đây là một vấn đề không dễ giải quyết nếu không có sự quan tâm của cả người dạy, người học, người quản lý và người sử dụng lao động. Điều trước tiên cần đặt ra là chúng ta có thực sự quan tâm đến đầu ra không? Và nếu đầu ra thực sự tốt thì sinh viên có chắc chắn có việc làm không? Thứ nữa, chúng ta có chấp nhận quá trình sàng lọc trong đào tạo theo học chế tín chỉ không? Dường như các trường đang rất ngại khi có một số lớn sinh viên không đủ năng lực bị buộc thôi học trong quá trình đào tạo. Dư luận xã hội thường chú ý quá mức đến vấn đề này. Đây cũng là vấn đề do chúng ta quan tâm đến đầu vào quá lâu trong đào tạo đại học. Ở nước ngoài việc sinh viên học không được bị thôi học là chuyện bình thường và đó là khả năng sàng lọc của trường trong quá trình tổ chức đào tạo. Với phương thức đào tạo tín chỉ người học được phép lựa chọn tiến độ và thời gian học. Ở nước ta, việc này xem chừng vẫn đang nằm trong quán tính của hình thức đào tạo niên chế. Chúng tôi nghĩ đã đến lúc việc sàng lọc sinh viên không có năng lực học tập ở đại học phải được thực hiện cương quyết hơn và phải thật sự thắt chặt đầu ra trong đào tạo đại học mới hy vọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nếu chúng ta vẫn tiếp tục trượt theo quán tính này thì cả người dạy và người học không cần quan tâm nhiều đến kết quả kiểm tra đánh giá trong đào tạo đại học. Điều trước mắt có thể nhận ra là số sinh viên tốt nghiệp loại khá giỏi trong một khóa học nhiều gấp đôi so với số sinh viên đào tạo theo hình thức niên chế. Tất nhiên, để có số liệu so sánh chúng ta phải tiếp tục theo dõi ở nhiều khóa hơn nữa mới có những kết luận chính xác.
4. CÁCH TÍNH ĐIỂM TRONG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ
Trong khuôn khổ bài báo này chúng tôi trao đổi thêm về quy định đánh giá trong đào tạo tín chỉ và thói quen của giảng viên và sinh viên khi tiếp xúc với kết quả đánh giá. Điều 22 Quy chế 43 quy định về Cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần như sau:
"1. Điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thức học phần được chấm theo thang điểm 10(từ 0 đến 10) và làm tròn đến một chữ số thập phân.
2. Điểm học phần là tổng điểm của tất cả các điểm đánh giá bộ phận của học phần nhân với trọng số tương ứng. Điểm học phần làm tròn đến một chữ số thập phân sau đó được chuyển thành những điểm chữ như sau:
A (8,5 - 10) Giỏi
B (7,0 - 8,4) Khá
C (5,5 - 6,9) Trung bình
D (4,0 - 5,4) Trung bình yếu
F ( dưới 4,0) Kém
Và ở Điều 23 quy định về cách tính điểm trung bình chung như sau:
A tương ứng với 4
B tương ứng với 3
C tương ứng với 2
D tương ứng với 1
F tương ứng với 0
Những cách tính này không khó cho người làm quản lý nhưng tạo ra thói quen về đánh giá theo kiểu cũ của người dạy và người học. Vẫn biết là chúng ta đang ở giai đoạn giao thời từ phương thức đào tạo niên chế chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ do vậy giảng viên và sinh viên chúng ta quen với hệ 10 hơn hệ 4 nên cần có sự chuyển tiếp. Hơn nữa, người tuyển dụng chưa quen với điểm chữ và hệ 4 nên sinh viên gặp khó khăn khi xin việc làm. Tuy vậy, cách làm của chúng ta lại dẫn đến một hệ quả khác. Tuy là đào tạo theo học chế tín chỉ nhưng rất ít giảng viên cho điểm chữ và rất nhiều người không nhớ điểm A bao gồm từ điểm nào của hệ 10. Nói cách khác là họ vẫn tư duy trên thói quen cũ từ thời niên chế và cũng không quan tâm mức độ cụ thể trong cách đánh giá mới. Cũng vì lối tư duy này mà có giảng viên quan niệm 4,0 điềm là đánh rớt sinh viên và 5.0 điểm là sinh viên được an toàn rồi. Họ quên rằng điểm D là từ 4,0 đến 5,4 và tích lũy nhiều điểm D thì sinh viên có nguy cơ bị đuổi học. Cho đến khi bị buộc thôi học thì cả thầy lẫn trò mới rõ yêu cầu của quy chế.Nói điều này để đề xuất với bộ Giáo dục và Đào tạo nên chăng chúng ta không tiếp tục lệ thuộc vào hệ 10 để cả người dạy và người học ý thức rành mạch về một phương thức đào tạo mới với cách đánh giá mới. Khi cho điểm A hoặc điểm F chắc chắn người cho điểm và người nhận điểm nhận thức rõ hơn về thang đánh gía trong đào tạo tín chỉ và có trách nhiệm hơn trước việc đánh giá. Chúng tôi nghĩ chúng ta nên mạnh dạn thay đổi để xã hội dần dần hiểu rõ hơn phương thức đào tạo mới. Tất nhiên, để khỏi thiệt thời quyền lợi của sinh viên khi tìm kiếm việc làm, trước mắt, trong phiếu ghi kết quả học tập chúng ta có thể chú thích rõ để các cơ quan tuyển dụng biết. Việc làm này góp phần xóa bỏ cách tư duy cũ để xác lập một cách tư duy mới trong đánh giá.
5. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ
Vấn đề cần trao đổi thêm là khóa luận tốt nghiệp trong đào tạo tín chỉ. Trong chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo có quy định về khóa luận tốt nghiệp nhưng trước đây là dành cho đào tạo niên chế. Khi chuyển sang đào tạo tín chỉ nhiều trường đưa học phần này sang. Điều đáng quan tâm là đào tạo theo học chế tín chỉ không có thi tốt nghiệp, chỉ tích lũy đủ tín chỉ theo quy định của chương trình nên nội dung này trở nên lạc lõng và góp phần làm "đông cứng" chương trình đào tạo. Vẫn biết khóa luận là hình thức để tập cho sinh viên làm quen với nghiên cứu khoa học và cũng là học phần giúp giảng viên đánh giá năng lực tổng hợp của người học nhưng xác định "khóa luận tốt nghiệp' thì sinh viên khó khăn trong việc chọn tiến độ học tập. Nên chăng học phần này chuyển thành Nghiên cứu độc lập như chương trình đào tạo ở một số nước.
6. KẾT LUẬN
Thực tế ở nước ta cho thấy rằng đánh giá kiểu nào học kiểu ấy. Do vậy, việc đổi mới kiểm tra đánh giá góp phần quan trọng vào việc đổi mới phương pháp dạy và học ở đại học. Ưu điểm của đánh gía trong đào tạo theo học chế tín chỉ là đánh gía cả quá trình học, đánh gía năng lực tự học của sinh viên. Điều quan trọng là phải xác định được những năng lực mà sinh viên cần đạt tùy theo đặc thù của ngành học để đáp ứng yêu cầu của người tuyển dụng. Tiềm năng của sinh viên được tích lũy thông qua việc học tập ở trường, học ở nhà, học ở xã hội. Do vậy, cần tổ chức đa dạng các hoạt động đào tạo với cách đánh giá thích ứng để giúp sinh viên thể hiện được các năng lực hiện có, đồng thời nâng cao tiềm lực của mình. Cần mạnh dạn loại bỏ những quán tính cũ để xác lập một cách thức đánh giá hiệu quả và có độ tin cậy cao hơn. Cần tạo ra một hợp lực để xóa bỏ cái cũ và xây dựng cái mới.
Tôn Thất Dụng
(Trường Đại học Sư Phạm Huế)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ giáo dục và Đào tạo, Quy chế 43/2007/BGDĐT, Đào tạo đại học và cao đẳng chính quy theo hệ thống tín chỉ, ngày 15 tháng 08 năm 2007.
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2010). Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đại học giai đoạn 2010 -2012, Nxb Giáo Dục Việt Nam.
[3] Nghiêm Đình Vy và tgk. (2002). Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.
[4] Nguyễn Đắc Hưng và tgk. (2004). Nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[5] VUN. (2009). Đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ, Đà Nẵng.