VỀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT ĐƯA CÁC KÝ TỰ F, J, W, Z
VÀO BẢNG CHỮ CÁI TIẾNG VIỆT
Trong xã hội hiện đại, thanh niên là lớp người năng động sáng tạo và có chính kiến trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa. Lớp người trẻ này có khả năng thích ứng, hội nhập cao. Họ tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới và tri thức của toàn nhân loại một cách sáng suốt có chọn lọc và hết sức chủ động . Vì vậy, ngày nay các vấn đề khoa học không phải là vấn đề riêng của các nhà khoa học, những gì mang tính khoa học luôn được thế hệ trẻ quan tâm tìm hiểu và đưa ra ý kiến, quan điểm một cách tự tin. Chữ viết tiếng Việt là tài sản quý giá của dân tộc Việt Nam, đây không chỉ là vấn đề của ngôn ngữ học hay đơn thuần là vấn đề kỹ thuật, bản chất của nó còn là vấn đề xã hội [Trần Trí Dõi], vì vậy tham khảo ý kiến của sinh viên về việc đưa các ký tự F, J, W, Z vào bảng chữ cái tiếng Việt là rất cần thiết.
1. Đặt vấn đề
Vào lúc các nhà khoa học, nhà giáo, nhà báo,...đang thảo luận sôi nổi về các vấn đề xoay quanh ý định đưa các ký tự F, J, W, Z vào bảng chữ cái tiếng Việt suốt từ đầu tháng 8 năm 2011 đến nay thì tuổi trẻ, học sinh - sinh viên cũng không đứng ngoài cuộc, các sinh viên có nhiều ý kiến, cách đánh giá vấn đề rất khác nhau. Từ thực tế đó thiết nghĩ phải tiến hành khảo sát lấy ý kiến sinh viên về vấn đề trên, bởi vì sinh viên thuộc bộ phận năng động nhất trong việc dùng tiếng Việt qua hình thức chữ viết, đồng thời việc khảo sát cũng hoàn toàn phù hợp và hữu ích cho công tác giáo dục, đặc biệt là giáo dục ngôn ngữ và ngữ văn. Chúng tôi thực hiện khảo sát không chỉ ở các lớp chuyên ngành ngữ văn, ngoại ngữ mà kể cả sinh viên không chuyên ngành như các lớp đào tạo giáo viên Mầm non, Quản trị ở trường Đại học Ngoại Ngữ Tin học TP.HCM và trường Đại học Bạc Liêu. Kết quả khảo sát đã cung cấp thêm cứ liệu làm cơ sở cho những đề xuất về giáo dục ngôn ngữ, về việc xây dựng bộ luật ngôn ngữ và chữ viết tiếng Việt.
2. Sơ lược các vấn đề về chữ quốc ngữ
Thực chất, vấn đề về chữ viết, chữ Quốc ngữ, đã nảy sinh từ 1902 -1909, những năm 20 của thế kỷ XIX và nửa sau thế Kỷ XX [Nguyễn Văn Lợi]. Năm 1902 đã có ý kiến đề xuất cải biến một số điểm của chữ quốc ngữ. Liên tục sau đó là những cuộc tranh luận kéo dài. Đến năm 1909 đã có một cuộc thảo luận về chữ Quốc ngữ do những người có uy tín và thẩm quyền khoa học chủ trì. Cuộc hội thảo đưa ra quan điểm của F. de Saussure "ngôn ngữ, chữ viết nào cũng có biến chuyển, có bất thường", đối với các nhà ngôn ngữ học tình trạng không khớp giữa chữ viết và âm là chuyện cố nhiên, "chớ nên nghĩ rằng việc đầu tiên khi nhận ra những bất thường là cải cách chính tả" [Cao Xuân Hạo]. Sau hội thảo không có sự thay đổi nào đối với tiếng Việt, hội thảo cũng làm lắng xuống không khí tranh luận.
Cho đến nay, bắt đầu từ ý kiến của TS Quách Tuấn Ngọc được dẫn trên một số bản tin và việc chính ông khẳng định mấy ký tự F, J, W, Z sẽ được thêm vào bảng chữ cái tiếng Việt trong buổi tọa đàm ngày 7/9/2011 về chủ đề "Công nghệ thông tin và tiếng Việt", nghĩa là gần một tháng sau khi có dư luận Cục Công nghệ Thông tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ trình dự thảo "Quy định về việc sử dụng tiếng Việt" , trong đó có việc bổ sung hoặc thay các ký tự F, J, W, Z vào bảng chữ cái tiếng Việt. Từ lúc đó vấn đề chữ viết của tiếng Việt, vấn đề chính tả của tiếng Việt trở lại thành vấn đề gợi lên các cuộc trao đổi ý kiến sôi nổi, đôi khi trở nên "bức xúc". Sau đó, những cuộc thảo luận diễn ra có vẻ ôn hòa nhưng không kém phần quyết liệt với sự tham gia của nhiều nhà ngôn ngữ học, nhà giáo, nhà báo, các học giả như Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Văn Tình, Đào Tiến Thi "Về ý định đưa mấy ký tự F, J, W, Z vào bảng chữ cái tiếng Việt"; Đinh Văn Đức "Văn Tự (Chữ viết) là chuyện đại sự của văn hóa"; Nguyễn Văn Lợi "Việc sử dụng các ký tự F, J, W, Z trong văn bản tiếng Việt hiện nay".
Sau hàng loạt các ý kiến, nhận định cùng chiều và trái chiều, có thể thấy rằng đây là vấn đề không phải của riêng cá nhân hay tổ chức nào mà vấn đề chung của xã hội. Trong tình hình chung đó, một số cuộc thử nghiệm được thực hiện nhằm lấy ý kiến từ một số lượng sinh viên nhất định mà chúng tôi có thể tiếp cận được.
3. Ý kiến của sinh viên về vấn đề chữ quốc ngữ
3.1. Ý kiến từ bài thu hoạch
Việc khảo sát được tiến hành thông qua việc lấy ý kiến từ bài kiểm tra giữa kỳ, bài thu hoạch của sinh viên ngành ngoại ngữ, ngữ văn khi các sinh viên đang học học phần Dẫn luận ngôn ngữ học hay Ngôn ngữ học đại cương. Ngay khi hướng dẫn sinh viên tìm hiểu và tổng kết những chương có liên quan đến vấn đề cần khảo sát, chúng tôi đặt ra câu hỏi kiểm tra và yêu cầu sinh viên về nhà làm bài thu hoạch.
a. Cách tiến hành
Trường hợp này, đề kiểm tra gồm 2 câu hỏi, câu thứ nhất yêu cầu sinh viên trình bày lịch sử tiếng Việt. Câu hỏi này nhằm gợi ý và đặt ra yêu cầu bắt buộc sinh viên phải đọc sách chuyên ngành, lịch sử tiếng Việt của GS Trần trí Dõi, từ đó sinh viên tích lũy thêm kiến thức và có sự hiểu biết nhất định trước khi đi sâu vào các vấn đề chuyên ngành ngôn ngữ học tiếp theo. Câu hỏi thứ 2 yêu cầu sinh viên trình bày quan điểm của chính các bạn về việc có nên hay không đưa các ký tự F, J, W, Z vào bảng chữ cái tiếng Việt. Với cách khảo sát này, đa số sinh viên có sự chuẩn bị trước 2 tuần, được tham khảo tài liệu và thường trình bày lại luận điểm của các nhà khoa học, nhà giáo mà họ tham khảo được từ các nguồn khác nhau như báo in, tạp chí khoa học, bài viết, báo trên mạng internet.
b. Kết quả
Kết quả khảo sát được chia thành 3 nhóm: nhóm tán thành, không tán thành và nhóm ý kiến trung lập. Trong đó, có 124 bài/171 bài viết kiểm tra trình bày quan điểm không tán thành việc thêm các ký tự F, J, W, Z vào bảng chữ cái tiếng Việt, chiếm hơn 70% tổng số sinh viên được khảo sát. 47/171 ý kiến tán thành và trung lập.
Nhóm ý kiến không tán thành, sinh viên đồng tình với một số nhà khoa học cho rằng việc thay đổi dẫn đến nhiều hệ lụy, phá vỡ cái có tính chất truyền thống của hệ thống chữ viết tiếng Việt, tốn nhiều kinh phí cho việc thay toàn bộ sách các cấp, các loại, đầu tư nguồn nhân lực cải cách giáo dục và chính tả, mất một khoảng thời gian dài không hợp lý dành cho sự thay đổi này mà mọi việc sau đó chưa chắc đã ổn thỏa, thay vì đầu tư xây trường lớp hiện đại, hay đưa giáo dục đến tận vùng sâu vùng xa đến những người nghèo khó. Việc thay thế các ký tự nói trên cũng cắt đi mối dây lịch sử văn hóa quý báu của dân tộc.
Trong nhóm ý kiến tán thành và trung lập, hầu hết sinh viên nhận thấy các ký tự trên hầu như đã được sử dụng rộng rãi trên các văn bản, báo chí, truyền thông đại chúng và đề nghị cơ quan chức năng xem xét cẩn thận và toàn diện trước khi tiến hành bất kỳ một sự thay đổi nào đối với tiếng Việt. Một cách kín đáo, các bạn sinh viên nhóm này có dự cảm về một sự đảo lộn mà các bạn vẫn chưa tiên liệu được sự thay đổi mang lại kết quả tốt hay không, đề xuất thêm bốn ký tự có thực sự ưu việt hoàn hảo hay không.
Nhóm ý kiến không tán thành, ngay trong cách lập luận các bạn đã thể hiện sự ham học hỏi, sự quan tâm sâu sắc đến các vấn đề ngôn ngữ. Luận cứ các bạn đưa ra khá chặt chẽ được trích lọc và dẫn nguồn theo các nhà khoa học uy tín. Hơn nữa các còn bộc lộ rõ ràng và thuyết phục quan điểm cá nhân.
c. Đánh giá
Ưu điểm của cách tiếp cận, phương pháp khảo sát như đã nói trên là kết quả có thể đáng tin cậy, ý kiến của sinh viên được trình bày một cách khách quan, chính xác, có luận điểm và tính khoa học nghiêm ngặt. Tuy nhiên, hình thức bài thu hoạch về nhà lại có chỗ hạn chế không nhỏ là sinh viên tham khảo và lệ thuộc quá nhiều vào tài liệu cũng như đa số các bạn trình bày ý kiến là nói theo và nói lại quan điểm của các nhà khoa học. Điều này dẫn đến khó khăn không nhỏ khi chúng tôi cần phân định đâu là ý kiến thực sự, tự nhiên bằng cảm thức ngôn ngữ của sinh viên, đâu là những ý kiến "bỏ phiếu". Cũng dễ thông cảm và chấp nhận, thông thường dù có cảm thức chính xác hay không về các vấn đề khoa học xã hội, với khả năng của mình sinh viên cũng không đủ lý lẽ để thuyết phục và không thể thuyết phục hay như các nhà khoa học. Hơn nữa với niềm tin khoa học, trích dẫn luận điểm của các nhà khoa học trước đó để chứng minh quan điểm đúng đắn, đáng tin cậy là việc chúng ta thường làm.
Điều đáng phấn khởi ở đây là "người trẻ" không chỉ "muốn chứng tỏ, muốn mình khác đi thế hệ trước" mà phủ nhận tất cả. Giới trẻ rõ ràng rất biết lắng nghe một cách có chiều sâu và biết chọn lọc.
3.2. Ý kiến từ phiếu khảo sát trắc nghiệm
Nhằm khắc phục hạn chế của phương pháp khảo sát đầu, việc khảo sát cần tiến hành lấy ý kiến tại chỗ thông qua phiếu điều tra, tạm gọi là khảo sát tại chỗ. Đối tượng khảo sát là sinh viên năm nhất ngành Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam 2 đang học Học phần Ngôn ngữ học Đại cương và sinh viên các lớp giáo viên Mầm non 3, Quản trị, Kinh tế 4.
a. Cách tiến hành
Việc khảo sát đối với sinh viên chuyên ngành được thực hiện khi các bạn đã tìm hiểu các nội dung có liên quan vấn đề. Phiếu điều tra được chúng tôi phát bất ngờ trong tiết học của học phần khác. Cách thu thập ý kiến này có hạn chế là sinh viên không có sự chuẩn bị về tâm thế, chưa liên hội được kiến thức, không có điều kiện suy nghĩ, nghiền ngẫm, ý kiến được trình bày rời rạc theo cách trả lời các câu hỏi trắc nghiệm. Tuy nhiên, nhược điểm lại chính là ưu điểm của phương pháp này, vì không có sự đầu tư, tham khảo tài liệu hay ý kiến của các học giả nên ý kiến của các bạn là ý kiến theo cảm thức ngôn ngữ tự nhiên. Hơn thế nữa, cách khảo sát này đặt sinh viên vào tình thế phải có câu trả lời, lựa chọn rằng chấp nhận hay phản đối.
Có thể nói, việc thu thập ý kiến hướng đến cảm thức ngôn ngữ của giới trẻ đặc biệt đối với sinh viên chưa có kiến thức chuyên ngành ngôn ngữ thể hiện lòng tin và sự tôn trọng vào cảm thức ngôn ngữ của con người nói chung. Như GS Cao Xuân Hạo từng nhắc lại nhiều lần, cảm thức ngôn ngữ của trẻ em thường chính xác hơn các nhà khoa học kỳ cựu bị ảnh hưởng bởi sách vở, bởi tính chủ quan. Vấn đề cảm thức ngôn ngữ được đặt ra cũng nhằm mục đích xã hội hóa vấn đề. Chúng tôi nghĩ cần nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ, khía cạnh và cần thiết tập cho giới trẻ có trách nhiệm với việc tự học, có trách nhiệm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và điều này thực sự cần thiết ngay từ bây giờ để hướng giới trẻ đến một thái độ ứng xử đúng đắn. Đó là lý do vì sao việc khảo sát cũng được tiến hành đối với sinh viên các lớp thuộc khoa Kinh tế.
b. Kết quả khảo sát
Kết quả khảo sát tại chỗ cho chúng ta những nhiều điều thú vị và khiến các nhà chức trách, nhà chuyên môn phải suy nghĩ.
Tổng số sinh viên được khảo sát là 570 sinh viên, số ý kiến tán thành việc thêm các ký tự F, J, W, Z vào bảng chữ cái tiếng Việt là 166 sinh viên (29.12%), không tán thành là 350 sinh viên (61.4%), ý kiến kiến khác là 54 sinh viên (9.48%). Trong đó, khoa sư phạm khảo sát 434 sinh viên, có 129 sinh viên (29.73%) tán thành, 264 sinh viên (60.83%) không tán thành và 41 sinh viên (9.45%) cho ý kiến khác. Khoa Kinh tế khảo sát 160 sinh viên, 37 sinh viên (27.2%) tán thành, 86 sinh viên (63.2%) không tán thành và 13 (9.6%) sinh viên có ý kiến khác.
c. Đánh giá
Nhóm sinh viên có ý kiến khác, các bạn chưa nhìn vấn đề một cách thấu đáo, chưa thấy đươc những hệ lụy của những thay đổi, nên đa số các bạn cho rằng việc thêm các ký tự F, J, W, Z vào bảng chữ cái tiếng Việt không ảnh hưởng đến tiếng Việt, việc sử dụng tiếng Việt, chính sách ngôn ngữ, tài liệu lưu trữ, cải cách giáo dục v.v.. Các sinh viên này cũng thấy được sự cần thiết của bốn chữ cái nói trên trong việc phiên âm tên tiếng nước ngoài, chuyển tự từ chữ viết này sang chữ viết khác, từ Slavơ sang Latin, ngoài các trường hợp đó, tiếng Việt vẫn vận hành bình thường nên các bạn ấy cho rằng cần sử dụng 4 ký tự nói trên nhưng không nên lạm dụng.
4. Kết luận
Thời đại ngày nay, khi mà hoạt động giao tiếp diễn ra trong bối cảnh song ngữ, đa ngữ thì việc hội nhập, học hỏi trong giao tiếp bằng ngoại ngữ phải gắn liền với việc học tập, củng cố và phát huy hơn nữa bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy kỹ năng sử dụng tiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Mặc dù tiếng Việt luôn hiện hữu trong lòng người Việt nhưng sự hiện hữu ấy phải được chăm bồi hoàn thiện để ngày càng đẹp hơn.
Sức sống của tiếng Việt không chỉ bộc lộ mạnh mẽ trong cộng động người Việt, nước Việt mà nó mãnh liệt theo người Việt đến khắp mọi nơi trên thế giới. Bởi vì, tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ của một dân tộc chính là nguồn cội, gốc rễ của mỗi con người, và cho dù trong hoàn cảnh khó khăn nghiệt ngã như thế nào, con người vẫn luôn trân trọng, gìn giữ. Bài viết "Bị tù đày vẫn giữ được tiêng mẹ đẻ" trên đất Thái góp phần tôn vinh tiếng Việt, mang đến cho chúng ta một sự tự hào bên cạnh những cảm xúc rất tự nhiên. Vì vậy, vấn đề giáo dục ngôn ngữ cho đông đảo người Việt luôn được quan tâm chú trọng, không phải chỉ trong giáo dục mà giáo dục đồng hành trong các hoạt động văn hóa, chính trị, kinh tế.
Hơn hết, khi nhiều quan điểm "bùng nổ" với đề xuất xây dựng bộ luật ngôn ngữ ở Việt Nam thì một cuộc thảo luận chính thức với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, không chỉ các nhà ngôn ngữ học mà cần tập hợp cả các chuyên gia của các ngành khoa học khác, từ khoa học xã hội đến khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ là cần thiết. Việc này sẽ giúp cho các nhà chức trách có được nhiều kết luận trên sự tổng hợp ý kiến của đa số các nhà khoa học. Quan trọng nhất là giúp các nhà chức trách có được một cái nhìn biện chứng để từ đó đề nghị cách giải quyết có tính pháp lý đến các cơ quan quyền lực.
Như nhiều tác giả đã viết, thực ra vấn đề này không phải là hoàn toàn mới. Chỉ mới ở cách đặt vấn đề. Vì vậy thiết nghĩ chúng ta cần tham khảo kỹ các luận điểm và quy định đã có từ những năm 1980 và 1983 (Chuẩn hoá chính tả và thuật ngữ, tr.18-22, Phạm Huy Thông - Nguyễn Cảnh Toàn tr.38-58) để việc giải quyết vấn đề này cũng như thực trạng về cách viết chính tả tiếng Việt nói chung sao cho phù hợp với tình hình tiếp xúc ngôn ngữ - văn hoá hiện nay.
Phan Thanh Bảo Trân
------------
Ghi chú:
Tài liệu tham khảo