Ông là em ruột của ông nội tôi nên tôi gọi là ông nội Tám. Ông là người rất ấn tượng, khó lẫn với ai khác ở cái xã Hòa Thịnh này.
Nghe mọi người kể lại, thời thanh niên, đêm trước ngày cưới vợ, ông đã thức suốt đêm và khóc ngon lành như một đứa trẻ. Lý do khóc: chờ tới ngày mai lâu quá, đáng lẽ phải cưới vợ liền ngay trong đêm nay ! Đó là nước mắt ngày cưới, nó diễn ra lúc tôi còn chưa sinh. Nhưng tôi lại trực tiếp chứng kiến nước mắt của ông ngày vợ ông qua đời ở tuổi ngoài 50. Ông cũng khóc rất thành thật. Trong đời, tôi chưa thâý người đàn ông trung niên nào khóc ngon lành như vậy. Vài năm sau, ông đi bước nữa và cùng người vợ mới ra ở một căn nhà nhỏ giữa đồng để không làm phiền con cái. Người đàn bà này mang theo một đứa con riêng, và anh con trai này xem ông như cha ruột. Không chỉ làm ruộng, ông còn làm nghề mộc, cũng có đồng ra, đồng vào. Ngoài 60 tuổi vẫn khỏe mạnh, minh mẫn. Như vậy, ông là người hạnh phúc.
Ấn tượng đầu tiên của tôi về ông là những lần theo ba vào Hòa Thịnh làm ruộng. Sau 1975, nhiều địền chủ xã Hòa Thịnh sợ cách mạng tịch thu tài sản đưa vào hợp tác xã nên họ bán đổ bán tháo ruộng đất rất nhiều. Ông nội tôi nhân cơ hội đó mua rất nhiều ruộng và nhờ ông Tám trông coi dùm. Sở dĩ ông nội tôi không sợ bị tịch thu là vì ỷ lại công lao cách mạng của mình. Thời chống Pháp, ông từng là xã đội trưởng, rồi có con là trung đội phó bộ đội đặc công huyện Tuy Hòa I thời chống Mỹ (liệt sĩ). Sau giải phóng ông làm trưởng ban tư pháp xã Hòa Đồng, kiêm trưởng thôn Phú Diễn, là người nắm luật pháp ở địa phương. Còn ba tôi là trưởng ban văn hóa thông tin, làm chủ các nguồn thông tin liên quan tới xã. Căn nhà ông nội tôi giống như cái trụ sở thứ hai của xã, nên chủ trương gì cũng biết. Tưởng chắc ăn nhưng đến năm 1979, toàn bộ số ruộng ấy vẫn phải vào hợp tác xã, ông nội tôi tình nguyện nộp ruộng trước để làm gương kêu gọi người khác làm theo. Thế là mất đứt một khoản tài sản lớn, sau này, ông nội và bà nội tôi thường hục hặc về chuyện này. Nhưng thôi, đó là chuyện của người lớn, bây giờ ta hãy trở lại chuyện trẻ con. Những lần theo ba vào nhà ông Tám, trong lúc người lớn làm việc thì tôi rong chơi trong vườn bắt dế, đuổi bướm... Đến trưa, ông Tám về ăn cơm, thức ăn chỉ có cơm và nước mắm. Thấy tôi ngồi trên giường, ông gọi: "Cu, xuống ăn cơm !". Tôi lắc đầu không ăn, không phải vì chê thức ăn không có gì mà sợ mấy trái ớt đỏ cay xé lưỡi trong chén mắm... Thế mà ông vẫn ăn rất ngon lành.
Tên của ông là Phạm Đắc Hoa nhưng mọi người thường gọi ông là Tám Pháo, có lẽ do ông nói to, oang oang và nói bốc như pháo nổ. Cái làm nên đặc trưng của ông là tính hay nói, hay khoe. Một trong những cái mà ông khoe đi, khoe lại khiến người ta phát ngấy là thành tích cách mạng của mình. Mỗi lần có khách tới nhà chơi, ông đặt trước mặt họ mấy cuốn sách đã sờn nát, kèm với mấy tờ giấy đánh máy, chắc là ông sưu tầm từ mấy cuộc hội nghị. Ông nói số trang cho họ tự mở ra xem. Đó là cuốn sách viết về lịch sử đảng bộ xã Hòa Thịnh và mấy cuốn hồi ký của các vị lão thành cách mạng có nhắc đến tên ông. Có cuốn nhắc tới ông trọn vẹn trong một câu, có cuốn bỏ tên ông vào trong một danh sách gồm nhiều người và cuối câu có ghi chữ v.v... Sau một hồi nôn nóng chờ khách xem xong, sợ khách không hiểu công lao to lớn của mình, ông bắt đầu cái nghĩa vụ giảng giải tường tận sự việc. Đại khái là, trong khoảng 1956 - 1960, cách mạng trên núi thiếu vũ khí trầm trọng, súng đạn quý hơn vàng. Ông đã la cà chơi với lính quốc gia và kiếm được vài khẩu súng đem lên cho cách mạng. Không những thế, ông còn vận động được nhiều lính bỏ ngũ, mang vũ khí đi theo cách mạng... Để tăng cường kịch tính cho câu chuyện, ông còn nêu lên một vài hành động ác của chính quyền cũ, như ông xã... thấy ai nuôi giấu cộng sản thì sai lính đè ra cắt cổ chứ chẳng chơi... Hoặc như cái chuyện ban đêm mò lên núi tìm cách mạng cũng được ông tạt ngang nói thêm chuyện cọp ăn thịt người, ma lai, rắn rít... cho nó thêm ly kỳ, hấp dẫn... Tôi nghĩ, nếu ông có điều kiện tiếp xúc chữ nghĩa nhiều thì biết đâu đã có thể trở thành một văn sĩ !
Sau khi giải thích xong, nhân tiện, ông còn mở rộng vấn đề kể sang các công lao khác từ thời chiến tới thời bình. Nếu khách há hốc miệng ngồi nghe một buổi thì ông phấn khởi kể suốt một buổi, khách kiên nhẫn ngồi nghe một ngày thì ông hăng hái kể suốt một ngày v.v... Có nhiều nhà nghiên cứu lịch sử "xã Đồng Khởi" đã tới nghe ông kể cả ngày mà không biết chán. Người ta mường tượng rằng, hình như những khẩu súng của ông đã có mặt giữa rừng gậy gộc, giáo mác trong đêm Đồng Khởi xã Hòa Thịnh, nơi được xem là có phong trào Đồng Khởi diễn ra sớm nhất miền Trung. Vì những thành tích cách mạng đó, ông được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Ngoài ra, còn nhận được nhiều giấy tờ khác có đóng công dấu tròn đo đỏ mà vì không nhớ mặt chữ nên ông không biết nó ghi gì trong đó. Mỗi lần đi dự lễ, ông nhận được một tờ, mang đi khoe khắp làng, rồi bỏ mất tờ giấy. Người nhà hỏi, ông chậc lưỡi: mất tờ này, đợt sau lại nhận thêm tờ khác, thiếu gì ! Ông thật là người hạnh phúc !
Nghe ông kể chuyện, có người thích, có người không thích. Những người trước kia theo phe quốc gia mà phải ngồi nghe thành tích cách mạng của ông thì có lẽ bực mình cũng chẳng khác gì trước 1975, ông phải ngồi nghe thành tích chống cộng của họ. Nhiều khi, tai họa tuôn ra từ cái miệng hay nói của ông. Có một lần, vào khoảng năm 1992, buổi tối, có hai người lạ mặt dừng xe Honda trước cửa nhà tôi báo tin ông Tám Pháo vừa mới mất, nói xong họ vội vã đi ngay, không kịp cho hỏi thêm điều gì. Cả dòng họ tôi ở Hòa Đồng nhao lên, lập tức đi xe vào Hòa Thịnh, có người vừa đi, vừa khóc. Tới nơi, thấy ông đang ngồi trong nhà uống trà cười nói như pháo nổ. Hóa ra, có người không ưa nên chơi xỏ ông.
Một số người tuy thân với ông nhưng cũng không thích ông ở cái tính khoe khoang quá đáng và lặp đi lặp lại chuyện cũ rích. Có người đang nghe nửa chừng bỗng đứng dậy bỏ đi hoặc ngắt lời ông bằng một câu nửa đùa nửa thật: ông có công lao với cách mạng nhiều như vậy nhưng cách mạng có cho ông cái gì không ? Nghe tới đây, mặt ông bỗng thừ ra và lặng im. Chưa bao giờ, tôi thấy ông lặng im lâu như thế. Về sau, có người họ hàng nói với tôi rằng, nay ông Tám đã chuyển đề tài nói chuyện rồi. Ông không còn khoe chuyện vác súng lên núi nữa mà chuyển sang khoe có đứa cháu học hành đỗ đạt cao là tôi. Cái giọng oang oang của ông mà xướng đến tên tôi thì danh tiếng của tôi vang rền vách núi Hòa Thịnh chứ chẳng chơi. Nên bây giờ, để cảm ơn ông, tôi lại viết bài này để "khoe" ông với các bạn bè mình.
Còn nhớ... Mồng một Tết 2007, tôi vào thăm, ông nói chuyện giòn giã như pháo nổ đầu xuân. Ông nói có duyên, rất lôi cuốn, thỉnh thoảng làm rộ lên những tràng cười. Mồng một Tết 2008, tôi vào thăm, ông mới bệnh dậy, còn yếu ớt nhưng vẫn ham nói. Nhưng có điều, câu chuyện của ông hơi lộn xộn, chắc ông cũng không hiểu mình đang nói cái gì. Mồng một Tết 2009, tôi lại vào nhà ông. Căn nhà không vui vẻ như trước nữa vì ông đã về nơi yên tĩnh vĩnh hằng. Một không khí im lìm làm tôi lạnh toát người. Nhìn ảnh chân dung trên bàn thờ vẫn thấy ông rất có thần thái, hình như ông đang sống, mắt ông đang nhìn và muốn nói gì đó nhưng miệng ông đã vĩnh viễn không mở được nữa rồi ! Mùng một Tết 2010, tôi lại vào thắp nhang cho ông. Đây là cái tết thứ hai bà con ở thôn Mỹ Xuân này thiếu tiếng nói oang oang như pháo nổ của ông Tám Pháo.
Ông đã đi trọn cuộc đời. Và còn bao nhiêu người khác đã, đang và sẽ đi qua cuộc đời mình.
Tuy Hòa Tây, xuân 2010
PHẠM NGỌC HIỀN