N ó chẳng có cha mà cũng chẳng có mẹ!
Vì thế nó cô đơn một bóng liêu xiêu bên góc cuộc đời,
một cuộc đời rét lạnh mùa đông. Từng đám lá héo tàn đua
nhau đổ ào lấp thân xác lẻ loi cô quạnh của nó. Nó vươn
mình hất vội những chiếc lá cố tình vùi nó vào đống ải
mục. "Có lẽ nào lá cũng biết làm đau tôi?" Nó ngoi lên bơ
phờ và mệt mỏi. Quần áo nó quả là te tua vì bị chó cắn,
bốc lên mùi hôi hám khiến mọi người phải lánh xa. Thằng
hủi chui vào rừng để khỏi bị người xua đuổi. Nhưng lấy gì
mà ăn giữa chốn heo hút này? Nó vuốt từng chiếc lá, liếm
hạt sương khuya mà nghe tê buốt, cái khát như đống lửa
đun vào cái cổ họng bỏng rát, cái đói cào xé ruột gan và
reo lên tiếng suối rồi biến thành dòng thác cuồn cuộn, nó
há miệng thở, nó hớp không khí nuốt cho đầy bụng hơi.
Rồi nó nằm im giữa mùa mưa đông, giữa đất trời hoang
vu... Bầy mèo hoang đi nhè nhẹ trên cành cây, chúng nhảy
ào vào thân xác nó như lũ hổ vồ mồi. Nó mở mắt, đưa đôi
tay yếu ớt xua đuổi những viên bi sáng lóe trong đêm, chứ
chẳng biết đó là lũ mèo hoang tấn công nó. Cả chục con
mèo giật mình hốt hoảng bỏ chạy, nhảy lên cây kêu meo
meo. Chúng tưởng nó là thứ ăn được, bởi mùi hôi thối toát
ra từ người nó - một thằng cùi hủi khốn khổ giữa rừng sâu!
Đói, rét như hai kẻ thù đang lao vào cái thân xác đầy mủ
và máu kia, chực giằng, xé nhỏ nó thành trăm mảnh. Nó
thở hổn hển, sợ hãi đứng lên gom đống lá phủ khắp người
cho bớt lạnh. Nó cười nhẹ miệng mếu máo: "Lá ơi tao cần
mầy lắm, tao biết mầy không làm tao đau, mầy đang cố
che chở cho tao khỏi những ánh mắt của mọi người và lũ
thú dữ kia!". Nó chui sâu vào lớp lá nằm im nghe cổ họng
đau rát. Nó nuốt nước bọt đánh ực mà có cảm giác khô
khốc như đang cố trợn mắt lên nuốt cục cơm khô tranh
với con chó hoang buổi chiều qua trên con đường đầy rác
bẩn. Thằng hủi lẫn vào những đống rác như cái thân của nó
cũng chẳng thua gì rác...
Nó lang thang, đi đến đâu cũng bị người ta đuổi. May
gặp được bà mù, bà cho nắm cơm ăn. Bà mù đi ăn xin đã
đưa tay sờ vào nó, bà giật mình sợ hãi khi biết nó là thằng
cùi hủi, vì thế bà đã lảng xa cái gốc cây mà nó và bà đang
ngồi. Nó biết: Do mù mà bà mới cho nó nắm cơm, nắm
cơm đó của đoàn đi tham quan, họ ăn còn thừa nên đưa
cho bà. Khi biết mình ngồi gần thằng hủi bà kinh hãi, cầm
chiếc gậy láng quáng bước nhanh, đến độ vấp vào gốc cây
ngã lăn kềnh. Nó thấy vậy chạy đến đỡ bà lên, bà hất tay nó
ra xua xua:
- Mầy đừng động đến người tao, tao đã mù mà lây hủi thì
ai cho tao tiền nữa, họ sẽ bắt tao vào trại ngay. Thế sao mầy
không vào trại mà đi lang thang làm gì?
Nó đứng im không dám nhúc nhích, đưa tay lau nước
mắt nói:
- Cháu cũng từ trại trốn ra, cháu định đi tìm cha mẹ
cháu, cháu nghe nói cháu bị bắt vào đây khi còn nhỏ xíu,
cháu không muốn ở mãi trong trại. Người ta có cha có mẹ,
cho dù họ có bị cùi hủi thì cũng có gia đình, còn cháu bơ
vơ ở trong căn nhà vắng lạnh, buồn lắm bà ơi! Tụi nó nói ở
ngoài này như thiên đường có đúng không bà?
Nói xong nó lại khóc to, tiếng khóc của nó nghe thật
thảm. Bà lồm cồm đứng dậy hỏi:
- Mầy có bị cùi hủi thật không, hay mình mẩy chỉ lở lói
thôi, chân tay đã bị cụt chưa?
Nó lắc đầu đưa cánh tay khô gầy đầy vết lở lên cao, ý cho
bà cụ mù xem:
- Cháu chỉ bị lở lói, chân tay vẫn lành lặn, không có bị
cụt ngón nào hết.
Nó nghi ngờ nó không phải bị cùi. Vì thế mà nó muốn
trốn ra, đi tìm cha mẹ nó. Bà mù cười chua chát rồi lắc đầu
dặn:
- Cháu ra suối tắm rửa, xong đi nhà thương để người ta
khám cho.
Nó nghe bà nói vậy có vẻ sợ liền than:
- Cháu ra ngoài xóm là người ta xua đuổi, họ ném đá
cháu đau lắm! Bà ơi tiền đâu để mua quần áo đến bệnh
viện? Tiền đâu mà khám? Bà ơi cháu khổ quá! - Nó ôm
mặt khóc nấc lên.
Bà mù ngồi thở dài, móc túi lấy số tiền xin được đưa cho
nó:
- Cháu đi mua quần áo đi, mặc cho dài phủ tay chân rồi
hãy đi khám, biết đâu không phải bị cùi hủi thì sao?
Nó thở đánh thượt một cái rất nặng, nói nghe rất tội:
- Cháu vừa đi đến đầu xóm là họ xua đuổi ngay, họ lấy
cây đánh rồi lũ trẻ ném đá vào mấy vết lở phọt cả máu ra.
Hay là bà mua hộ cho cháu được không? Cháu ở đây đợi
bà. Khi bà mua xong về đây, cháu không đến gần bà đâu,
bà đứng đằng đó quăng lại cho cháu.
Bà mù suy nghĩ giây lâu rồi gật đầu cầm gậy bước đi, bà
lò mò bước được vài bước quay lại hỏi:
- Cháu cao bao nhiêu, gầy béo thế nào để bà nói với
người ta?
- Cháu mười bốn tuổi, người gầy đét, cao cỡ bà.
Bà gật đầu khua gậy lốc cốc bước đi về phía có người ở.
Bà đi rất nhanh, bà vui nghĩ sẽ giúp cho thằng nhỏ này đi
khám bệnh, biết đâu nó không bị cùi hủi. Lúc đó bà sẽ cùng
nó đi xin ăn, nó dắt bà đi, rồi hai bà cháu ở với nhau cho vui.
Nó cũng một thân một mình như bà. Bà cứ lo chuyện của
thằng bé mà đi phăng phăng, một chiếc xe va vào bà rồi họ
bỏ chạy mất, bà nằm im trên con đường vắng vẻ, bà chưa
chết hẳn nhưng bà vẫn cứ lo cho thằng bé, bà nằm một lúc,
máu thấm vào đất, đất hút hết máu bà rồi bà ngoẹo cổ sang
một bên.
Thằng hủi chờ mãi với tia hy vọng mình không bị hủi, chỉ
ghẻ lở thôi, nó ngồi ở ven rừng đã hai ngày trời mà bóng
bà ăn mày mù biến đi đâu mất. Nó lầm bầm bảo: "Bà hay
về ngang qua lối này để về nhà mình, sao bà ấy không về
nữa?"... Nó muốn trở về trại nhưng sức đã tàn, mà có biết
đường đâu mà về! Ai cũng xua đuổi lánh xa thì làm sao hỏi
đường cho được. Nó thất vọng nằm im lìm dưới đám lá
mục mà nghe đau đớn tột cùng.
Xa xa tiếng chuông chùa ngân lên từng tiếng, nó lâm râm
cầu nguyện vái van, nó xin cho bà mù trở lại. Lúc đi bà hứa
sẽ cho nó ít tiền để đi khám. Bà cũng chẳng có con cái gì cả,
bà ở trong căn chòi ngay bìa rừng gần nơi nó nằm chỉ vài
trăm mét. Bà nói vậy chứ nó chẳng biết là ở đâu. Khi trốn
trại nó chui vào một chiếc xe đi làm từ thiện, khi họ dừng
xe nơi bìa rừng để đi vệ sinh thì nó nhảy xuống lủi vào một
gốc cây trốn, chờ xe đi khuất nó mới lò dò đi xin ăn. Lúc đó
quần áo nó còn lành lặn nên không ai biết, họ vẫn cho tiền
và nó sống qua ngày. Do những vết lở trên mình nó dính
vào lớp vải mà người ta nhận ra, rồi họ xa lánh đuổi xua,
đúng là một con chó ghẻ chứ không sai. Bây giờ nó ước
được quay về trại, ở trong đó có cô đơn vì luôn nghĩ đến
cha mẹ, nhưng cả một cộng đồng thì chẳng ai ghê tởm ai.
Nó ngước mặt lên trời, nhìn ánh sao đêm lấp lánh, nó
thiêm thiếp chìm dần vào giấc ngủ chập chờn. Nó mơ thấy
các vị thần đưa tay nâng nó lên. Và họ đưa nó vào cánh
cổng thiên đàng. Nó sung sướng mở mắt ra rồi nhìn khắp
lượt, nó thắc mắc: "Ô kìa, sao thiên đàng lại giống trại hủi
của mình vậy?!". Một người bước đến gần nó liền reo lên
bảo nó tỉnh rồi. Nó vẫn ngơ ngác không hiểu chuyện gì.
Một người đàn ông ngồi xuống gần nó ông nói:
- Chú đã đưa cháu về trại, cháu đừng trốn trại nữa mà
đói khát rồi chết thối ra ở giữa rừng nhá. Chú đi chặt củi
thấy cháu nằm dưới đống lá mục, chú biết cháu bị phong
nên đưa vào đây.
Nó vỡ lẽ: Đây là trại hủi chứ không phải thiên đàng, nó
rươm rướm nước mắt cảm ơn người tiều phu tốt bụng. Nó
được tiêm mũi thuốc và đang truyền nước nên cảm thấy
dễ chịu, nó hối hận vì đã bỏ nơi này để đi tìm cha mẹ, cha
mẹ nó đã chết vì bị bệnh hủi như nó. Nó là đứa không chịu
an phận nên cứ mơ mộng cuộc sống ở ngoài kia, thấy vậy
các bạn trong trại cùng xúm lại lừa nó. Chỉ vì lời nói đùa
của đứa bạn mà nó cứ tưởng cha mẹ nó ở ngoài ấy, còn
nó bị bắt đưa vào đây. Nó lơ mơ chìm vào giấc ngủ và khẽ
mỉm cười: "Còn sống vẫn hơn, cuộc đời đẹp quá!".
Khi thức dậy nó được đi về nơi nó ở, nơi đó có ông bà
già hủi sống. Trại muốn nó có một gia đình để nó bớt lẻ loi.
Ông bà cụ thương yêu nó như đứa cháu, nó cảm thấy yên
tâm, hạnh phúc khi được ở trong trại này, nếu bước ra bên
ngoài kia - một xã hội lành lặn, không ghẻ lở như nó, họ
không chấp nhận một kẻ không giống họ, nó có cảm giác
mình là người ngoài hành tinh, bị coi khinh và xua đuổi
dí vào con đường chết. Bây giờ nó vui vẻ như đã tìm được
cha mẹ, nó chịu sống trong cái xã hội riêng của nó. Nó
nhìn ông bà cụ rồi cười hớn hở, gọi họ là ông bà. Hai ông
bà già cười hom hem, cái mũi bị sụp xuống, khuôn mặt bị
biến dạng, nhưng họ vẫn cười tươi lắm khi đón nhận nó,
nó cũng yêu quý ông bà và cơm nước cho họ. Thoát cơn
chết đói nó mới hiểu: Sự sống rất cần thiết, cho dù là một
con kiến nó vẫn ham sống. Nó báo với lũ bạn cùng trang
lứa đã từng chơi đểu nó: "Tao đã hiểu ra rồi. Thiên đường
ở chính trong lòng ta!"
Vũ Mỹ Dung (Đaklak)